Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO BÁC SĨ TUYẾN HUYỆN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 1. Viên chức và viên chức là bác sĩ tuyến huyện 1. Viên chức Khái niệm viên chức được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật thay đổi theo từng thời kỳ tùy thuộc vào quan điểm của nhà nước về đội ngũ này.
Hiến pháp 1992 sử dụng cụm từ “cán bộ, viên chức” để chỉ chung những người làm việc tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp. Tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm từ được sử dụng là “cán bộ, công chức”. Khi pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm 2003, lần đầu tiên viên chức được tách riêng, phân biệt với công chức. Điểm d, Điều 1 Pháp lệnh quy định viên chức là “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”.
Tiếp đó, Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010 càng làm rõ ràng hơn về đối tượng là công chức, viên chức. Điều 2 Luật Viên chức 2010 định nghĩa: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[18]. Từ định nghĩa trên, viên chức bao gồm những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam. Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm.
Cụ thể như sau: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ 8 Luan van vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”. Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định được hiểu là: “tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [24]. Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính từ khi tuyển dụng, hợp đồng làm việc có hiệu lực đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của nhà nước.
Thứ năm, về chế độ lao động: Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Viên chức là bác sĩ tuyến huyện Trên cơ sở định nghĩa viên chức của Luật Viên chức 2010, có thể hiểu viên chức bác sĩ là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế và gắn liền với hoạt động công việc là bác sĩ. Hiện nay có rất nhiều đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế trên cả nước và địa phương.Đa số các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay là do các cơ quan ở trung ương thành lập và ở địa phương, các đơn vị sự nghiệp y tế do Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập. Trong hệ thống các đơn vị sự nghiệp y tế địa phương có các trung tâm y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là trung tâm y tế huyện).
“Trung tâm y tế huyệnlà đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc Sở Y tế, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu, tài khoản riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và Ngân hàng theo quy định của pháp luật. 9 Luan van Trung tâm y tế huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về tổ chức, nhân lực, hoạt động, tài chính và cơ sở vật chất của Sở Y tế; chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của các đơn vị y tế tuyến tỉnh, trung ương; chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thểnói viên chức là bác sĩ tuyến huyện là những công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các trung tâm y tế huyện theo chế độ hợp đồng và hưởng lương từ quỹ lương của các đơn vị này. Đặc điểm đầu tiên của viên chức là bác sĩ tuyến huyện phải là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm là bác sĩ, làm việc tại các trung tâm y tế huyện theo chế độ hợp đồng và hưởng lương từ quỹ lương của các đơn vị này.
Ngoài ra, họ phải đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ quy định tại Thông tư liên tịch 10/2015/TTLT-BYT-BNV, ngày 27/5/2015 của liên Bộ Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ. Động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1. Động lực làm việc - Khái niệm động lực: Qua tham khảo các tài liệu khác nhau, có nhiều khái niệm về động lực. Theo từ điển tiếng Việt, động lực là: Cái thúc đẩy, làm cho phát triển.Theo tác giả Kreitner (1995), động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định.
Theo Bedian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Động lực được tiếp cận từ nhiều góc độ.Từ góc độ tâm lý học, “động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [11, 10 Luan van tr.Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, “động lực chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [10, tr. - Khái niệm động lực làm việc Cũng như khái niệm động lực, có nhiều học thuyết khác nhau về động lực làm việc và được tiếp cận dưới nhiều hình thức riêng: Theo tác giả Chiristal Batal, “động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt mục tiêu mong đợi. Từ định nghĩa này, có thể hiểu động lực làm việc là sự thôi thúc khiến người ta hành động, vì thế nó có ảnh hưởng rất mạnh đến hành vi con người”[4, tr.
Theo MitChell (1982), “động lực làm việc là những lực đẩy bên trong và bên ngoài, ảnh hưởng đến sự lựa chọn và mong muốn thực hiện một hành vi và một hành động nào đó”. Theo giáo trình động lực làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước, động lực làm việc được hiểu là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao [16]. Theo giáo trình Hành vi tổ chức thì động lực làm việc được định nghĩa là “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [17].
Theo giáo trình quản trị nhân lực thì “Động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [25]. Động lực làm việc có những bản chất sau đây: Động lực làm việc được thể hiện thông qua thái độ của người lao động đối với tổ chức, đơn vị của họ. Mỗi người lao động đảm nhận những công 11 Luan van việc khác nhau và mỗi cá nhân có những động lực khác nhau thúc đẩy họ làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Tuy nhiên, kết quả công việc không phụ thuộc hoàn toàn vào động lực làm việc mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác. Động lực làm việc chỉ là một trong nhiều yếu tố quyết định đến kết quả công việc. Động lực làm việc mang tính tự nguyện, phụ thuộc chủ yếu vào chính người lao động, khi làm việc một cách chủ động và tự nguyện thì kết quả công việc sẽ đạt cao nhất. Chính vì vậy, nhà quản lý bằng cách thức nào đó tác động đến người lao động để họ nỗ lực nhiều hơn trong công việc.
Từ những khái niệm khác nhau, tác giả luận văn cho rằng: Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy, kích thích, làm cho cá nhân mong muốn, tự nguyện, và nỗ lực làm việc để đạt được những mục tiêu của cá nhân, tổ chức. Tạo động lực làm việc Động lực làm việc là một yếu tố quan trọng quyết định kết quả công việc. Do đó, các nhà quản lý phải chủ động dùng nhiều phương thức khác nhau để khuyến khích người lao động nỗ lực hết mình, sáng tạo, hoàn thành công việc với kết quả tốt nhất có thể.Khuyến khích bằng nhiều hình thức khác nhau, cả vật chất lẫn tinh thần. Tạo động lực làm việc chính là tạo ra sự lôi cuốn trong công việc, mong muốn được làm việc, khi đó người lao động sẽ làm việc một cách tự nguyện, hăng sayđể đạt được mong muốn, nguyện vọng của cá nhân và từ đó gắn bó với tổ chức.
Từ những phân tích trên, theo tác giả luận văn,tạo động lực làm việc là tất cả các phương thức mà nhà quản lý tác động đến người lao động để khuyến khích, động viên người lao động nỗ lực làm việc nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra. Một số học thuyết về tạo động lực làm việc Trên thế giới có rất nhiều học thuyết và lý thuyết khác nhau về động lực làm việc, có thể kể đến một số học thuyết tiêu biểu sau: 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: Hình 1.