ĐẶT VẤN ĐỀ Động lực làm việc của các cá nhân trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cá nhân và tổ chức. Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụng hợp lý nguồn lao động, khai thác hiệu quả nguồn lực con ngƣời nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Tạo động lực làm việc cho viên chức, ngƣời lao động có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức, môi trƣờng làm việc tại bệnh viện cũng không ngoại lệ. Trong ngành y tế điều dƣỡng là một ngành chiếm số lƣợng lớn, giữ vai trò quan trọng trong quá trình điều trị và chăm sóc, với hơn 129.337 [4] điều dƣỡng đang công tác tại các cơ sở khám chữa bệnh hiện nay, các dịch vụ chăm sóc do điều dƣỡng cung cấp có phạm vi rất rộng, từ việc hỗ trợ chẩn đoán và điều trị, thực hiện các kỹ thuật từ chăm sóc tinh xảo đến chăm sóc vệ sinh cơ bản cho ngƣời bệnh.
Trong mọi hoạt động chuyên môn, công tác điều dƣỡng luôn diễn ra trƣớc để bảo đảm cho công tác điều trị của thầy thuốc đƣợc an toàn. Dịch vụ chăm sóc của điều dƣỡng trực tiếp tác động vào chất lƣợng điều trị, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm biến chứng và tử vong cho ngƣời bệnh. Tuy nhiên, ngành điều dƣỡng của Việt Nam vẫn còn một số bất cập cần giải quyết nhƣ: chƣa đƣợc đầu tƣ thoả đáng cả về số lƣợng và chất lƣợng, mức thu nhập của ngƣời điều dƣỡng chƣa cao, chƣa nhìn nhận đúng vai trò của ngƣời điều dƣỡng. Để ngƣời điều dƣỡng có thể phát huy hết khả năng, năng lực, thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình thì việc tìm hiểu các yếu tố tạo động lực cho họ làm việc và xây dựng chính sách tạo động lực làm việc phù hợp cho điều dƣỡng là rất cần thiết.
Ban lãnh đạo của mỗi bệnh viện cần tìm hiểu động lực của nhân viên y tế nói chung và điều dƣỡng nói riêng, các yếu tố ảnh hƣởng từ đó đƣa ra đƣợc các giải pháp tăng động lực kết hợp với quản lý hiệu quả thực hành và giám sát tạo ra những điều kiện cho hiệu quả lao động trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc (ĐKKV) là bệnh viện trung tâm của 11 huyện miền núi phía tây Thanh Hoá. Bệnh viện có tổng số 553 viên chức, lao động hợp đồng, với 117 Bác sĩ và 305 Điều dƣỡng (ĐD), tỷ số Bác sĩ/Điều dƣỡng 2 đạt 1/2,5 thấp hơn so với quy hoạch của Chính phủ tại các cơ sở khám chữa bệnh [7]. Công suất sử dụng giƣờng bệnh năm 2017 của bệnh viện ở mức 230% [1], vào những ngày cao điểm số lƣợng bệnh nhân đến khám ngoại trú từ 600 - 700 lƣợt/ngày, bệnh nhân điều trị nội trú từ 1000 - 1100 BN/ngày.
Trong khi công việc khá vất vả và độc hại nhƣng tiền lƣơng và các khoản thu nhập khác tại bệnh viện miền núi còn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu cuộc sống của nhân viên y tế đặc biệt là đội ngũ điều dƣỡng, điều này ảnh hƣởng không nhỏ đến động lực làm việc của họ. Nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên y tế mà đặc biệt là động lực làm việc của điều dƣỡng đƣợc lãnh đạo Bệnh viện ĐKKV Ngọc Lặc rất quan tâm, bởi vì lực lƣợng điều dƣỡng chiếm số đông khoảng trên 50% tổng nhân viên bệnh viện. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc ngƣời bệnh điều dƣỡng luôn chịu nhiều áp lực nhƣ: áp lực từ phía ngƣời bệnh, bất đồng trong công việc, quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp. Bên cạnh đó sự vất vả do quá tải bệnh nhân, tiếp xúc với bệnh nhân có nguy cơ cao, đôi khi phải làm việc cả ca đêm, ngày nghỉ, ngày lễ, công việc lặp đi lặp lại, đòi hỏi nhiều sự tỉ mỉ nhƣng các khoản thu nhập tăng thêm tại bệnh viện chƣa cao, điều này có thể là nguyên nhân làm cho điều dƣỡng dễ chán nản, chƣa thực sự làm hết chức năng nhiệm vụ, có tƣ tƣởng an phận trong công việc dẫn đến hiệu quả trong công việc chƣa cao, từ đó có thể gây ra những sai sót trong chẩn đoán, chăm sóc và điều trị, ảnh hƣởng đến chất lƣợng chăm sóc ngƣời bệnh.
Để trả lời các câu hỏi: Động lực làm việc của điều dƣỡng đang công tác tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc hiện nay nhƣ thế nào? Các yếu tố nào ảnh hƣởng đến động lực làm việc của họ? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Động lực làm việc của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa năm 2018”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng động lực làm việc của Điều dƣỡng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa năm 2018. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của Điều dƣỡng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá năm 2018.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm, nhiệm vụ của điều dƣỡng 1. Khái niệm về điều dưỡng Ngày nay, điều dƣỡng đã xây dựng đƣợc một nền tảng khoa học vững chắc bao gồm nhiều học thuyết điều dƣỡng, hệ thống lý luận làm nền tảng cho thực hành nghề nghiệp, và nhiều nghiên cứu khoa học đƣợc đăng tải trên rất nhiều tạp chí khoa học uy tín. Từ đó thuật ngữ Điều dƣỡng đã đƣợc nhiều tác giả và các tổ chức khác nhau định nghĩa.
- Florence Nightingale cho rằng: Điều dƣỡng là nghệ thuật sử dụng môi trƣờng của ngƣời bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ. Vai trò trọng tâm của ngƣời điều dƣỡng là giải quyết các yếu tố môi trƣờng xung quanh bệnh nhân để họ phục hồi sức khoẻ một cách tự nhiên (Lý thuyết về khoa học vệ sinh) [3]. - Theo Hội Điều dƣỡng thế giới năm 1973: Điều dƣỡng là chăm sóc và hỗ trợ ngƣời bệnh thực hiện các hoạt động hàng ngày. Chức năng nghề nghiệp cơ bản của ngƣời điều dƣỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khoẻ của bệnh nhân hoặc ngƣời khoẻ, cũng nhƣ làm cho cái chết đƣợc thanh thản mà mỗi cá nhân có thể thực hiện đƣợc nếu nhƣ họ có đủ sức khoẻ, ý chí và kiến thức, giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt đƣợc sự độc lập càng sớm càng tốt [3].
- Năm 2005, Hội nghị toàn quốc chuyên ngành Điều dƣỡng Việt Nam đã đƣa ra định nghĩa: Điều dƣỡng là khoa học chăm sóc bệnh nhân, góp phần nâng cao chất lƣợng điều trị chẩn đoán tại bệnh viện và quá trình phục hồi sức khỏe sau điều trị để ngƣời bệnh đạt tới chất lƣợng cuộc sống ngày càng tốt hơn [3]. Nhiệm vụ của điều dưỡng Theo Thông tƣ liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dƣỡng, chức danh điều dƣỡng đƣợc phân làm 3 hạng (điều dƣỡng hạng II, điều dƣỡng hạng III, điều dƣỡng hạng IV) đƣợc quy định các nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau: - Chăm sóc ngƣời bệnh tại cơ sở y tế - Sơ cứu, cấp cứu. 5 - Truyền thông, tƣ vấn, giáo dục sức khoẻ. - Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Bảo vệ và thực hiện quyền của ngƣời bệnh - Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị. - Đào tạo, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp [5]. Khái niệm động lực, động lực làm việc, tạo động lực làm việc. Khái niệm động lực Động lực làm việc ngày nay đã trở thành khái niệm phổ biến và đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc đã đƣợc các nhà nghiên cứu công bố. Bartol và Martin (1998) mô tả động lực nhƣ một sức mạnh củng cố hành vi, tác động đến hành vi và gây nên những xu hƣớng tiếp tục [50]. Crossman & Abou Zaki (2003) là những hành động khuyến khích nhƣ bản thân công việc, tiền lƣơng, sự thăng tiến, giám sát và mối quan hệ với đồng nghiệp có thể ảnh hƣởng đến thái độ, hành vi và xác định đƣợc mức độ đam mê, cam kết, sự tham gia, sự tập trung [36]. Nhƣ vậy ta có thể thấy có khá nhiều các định nghĩa khác nhau và các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của ngƣời lao động.
Luận văn dựa trên cơ sở của các yếu tố này, cùng với việc điều chỉnh, bổ sung sao cho phù hợp với đối tƣợng, mục tiêu, phạm vi cụ thể của nghiên cứu. Động lực làm việc Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [17]. Theo giáo trình Hành vi tổ chức thì động lực làm việc đƣợc định nghĩa là “Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nổ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao động”[6].
Động lực làm việc đƣợc thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi ngƣời lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức, điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi lao động. Mỗi ngƣời lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc đƣợc gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trƣờng làm việc cụ thể [10]. Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thƣờng xuyên phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc.
Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng vào một thời điểm khác động lực làm việc chƣa chắc đã còn trong họ. Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý ảnh hƣởng tới ngƣời lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức.