chương 1: Công tác đầu tư xây dựng cơ bản luôn tăng mạnh trong những năm gần đây. Ngành công nghiệp xây dựng ngày càng trở nên là ngành công nghiệp cạnh tranh của sự phát triển và cải thiện. Do đó, vấn đề năng suất càng trở nên quan trọng và được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Nghiên cứu được thực hiện với đối tượng là các nhà thầu đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động và tiềm năng cải thiện các nhân tố này để nâng cao năng suất lao động. Để làm rõ thêm vấn đề, nội dung chương 2 sẽ đề cập tổng quan các nghiên cứu về năng suất lao động của các tác giả ở trong nước và ngoài nước; mối quan hệ giữa thầu chính và thầu phụ thông qua các nghiên cứu trước đây và sách báo, tài liệu cũng như phỏng vấn các chuyên gia. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Các vấn đề chung về năng suất lao động 2.1 Khái niệm về năng suất trong ngành xây dựng Năng suất lao động đã nhận được nhiều sự quan tâm và được thảo luận trong ngành công nghiệp xây dựng trong nhiều năm trước đây. Ý nghĩa của năng suất lao động tùy thuộc vào ứng dụng khác nhau, không có cách đo đơn giản cho tất cả.
Định nghĩa khác nhau khi chúng ta nghiên cứu năng suất của một tổ đội hay một cá nhân, tùy vào mục đích nghiên cứu (Thomas và Kramer,1987). Năng suất là một thuật ngữ được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1776, trong các lý thuyết của Quesnay, được xác định như “khả năng sản xuất” trong Littre năm 1833, và được định nghĩa lại như “mối quan hệ giữa đầu ra (output) và đầu vào (input)” ở đầu thế kỷ 21. Năng suất lao động về cơ bản, là đại lượng so sánh giữa giá trị tài nguyên sử dụng (input) và giá trị sản phẩm đạt được (output). Tăng năng suất lao động nghĩa là : • Giảm lượng tài nguyên sử dụng và giữ nguyên giá trị sản phẩm đạt được.
• Lượng tài nguyên sử dụng không đổi nhưng chất lượng hay số lượng sản phẩm được tăng lên. Tài nguyên đầu vào trong xây dựng: Vật tư, nhân công, máy thi công, phương thức quản lý. Quá trình thi công xây dựng là quá trình sản xuất có giá trị sản phẩm đạt được không đổi → Nâng cao năng suất lao động trong xây dựng là: Quản lý tốt hơn cách sử dụng tài nguyên; sử dụng loại tài nguyên tốt hơn. Mô hình dự án xây dựng: [2.2] 5 Mô hình trên công trường xây dựng: Một nhà thầu có khả năng để xác định năng suất bằng cách so sánh giá trị sản phẩm đạt được (output) và giá trị tài nguyên sử dụng (input), nơi mà các đơn vị sản lượng được cụ thể cho các loại công việc chung.
Đơn vị điển hình là bãi, tấn, và feet vuông. Những hoạt động trên công trường, chẳng hạn như ván khuôn, thép gia cường, bê tông. Năng suất được thể hiện như các đơn vị sản lượng cho mỗi đồng tiền hoặc làm việc giờ. Tại công trường, nhà thầu thường quan tâm đến năng suất lao động.
Nó có thể được quy định tại một trong những cách sau đây (Thomas và Mathews, 1985): [2.4] Không có định nghĩa chuẩn của năng suất và một số nhà thầu sử dụng nghịch đảo của công thức 2.5 thường được gọi là tỷ lệ đơn vị. Tuy nhiên các nhà thầu khác dựa vào các yếu tố hiệu suất như một biện pháp của năng suất: [2.2 Các phương pháp đo lường năng suất lao động 1. Phương pháp trực tiếp: Phương pháp Units/MH: Phương pháp này là một trong hai phương pháp đánh giá hiệu suất cơ bản nhất được sử dụng trong xây dựng. Phương pháp này đo lường số lượng đơn vị sản phẩm hoàn thành với số giờ công lao động tạo ra, đây là phương pháp ít tốn thời gian cho việc thực hiện và thu thập thông tin, và có thể áp dụng cho bất kỳ công tác hay hoạt động cơ bản nào (Thomas and Mathews 1986; Halligan et al.
6 Phương pháp $/Unit: Đây là chỉ số cơ bản thứ hai được sử dụng, nó được định nghĩa là giá trị tính bằng số tiền bị tiêu tốn cho một đơn vị sản phẩm được tạo ra bao gồm: các chi phí vật tư, các chi phí về nhân công, sự thất thoát chi phí và chi phí máy móc thiết bị. Việc sử dụng phương pháp này thì rất dễ dàng và nhìn chung là rất hiệu quả cho việc kiểm tra công tác cơ bản. Hai phương pháp trên là những phương pháp đơn giản để đo lường năng suất lao động, và đã được sử dụng rộng rãi. Phương pháp chi phí ( Cost): Chi phí công việc được sử dụng để dự đoán sự thành công hay thất bại, chi phí công việc liên quan đến việc thực hiện kiểm tra bằng việc so sánh chi phí thực hiện thời sinh ra với chi phí theo ngân sách tiền tệ tính cho công việc cụ thể tại cùng một thời điểm.
Phương pháp này không phổ biến, nhưng cung cấp một con số tổng thể dùng để so sánh với nguồn chi phí dự kiến của công việc theo ngân sách (Alfeld 1988, Thomas and Kramer 1988). Phương pháp hoàn thành theo tiến độ (On-time completion): Đây là phương pháp thường được kết hợp với phương pháp chi phí, đây là phương pháp đo lường việc thực hiện công việc theo tiến độ, và hai phương pháp này thường được kết hợp với nhau để hiểu rõ hơn về việc thực hiện công việc hiện tại, năng suất ở đây chỉ được đo lường dựa trên sự tiêu tốn thời gian với tiến độ tổng thể dự kiến. Ngoài ra, còn có các phương pháp khác: Phương pháp quản lý nguồn lực (Resourse Management), phương pháp kiểm soát khối lượng/ làm lại (Quality control/ Rework), phương pháp phần trăm hoàn thành (Percent complete), phương pháp số giờ công lao động đạt được (Earned Man – hours), phương pháp tính toán thời gian mất mát (Lost time accounting), phương pháp danh sách khuyết lỗi (punch list),… 2. Phương pháp gián tiếp: Phương pháp lấy mẫu công việc (Work Sampling): Là phương pháp áp dụng lý thuyết và kỹ thuật lấy mẫu theo phương pháp thống kê để đo lường việc sử dụng thời gian của công nhân.
Đây là phương pháp đo lường hiệu quả của quản lý. Phương pháp nghiên cứu công việc(Work Study): Là phương pháp nghiên cứu cách thức thi công hiện tại để tìm ra cách tốt nhất để thực hiện công việc, phương 7 pháp này đã được áp dụng trong xây dựng từ 1950, phương pháp này đã cho thấy rõ hơn các ưu khuyết điểm của người quản lý và công nhân lao động trực tiếp. Phương pháp câu hỏi/phỏng vấn (Questionaire): Là một phương pháp hiệu quả để xác định các vấn đề về nhân sự, tổ chức và quản lý trong thi công xây dựng dựa trên ý kiến của các thành viên tham gia vào dự án về các nguyên nhân gây ra sự chậm trễ, gián đoạn và giảm năng suất lao động. Đây là một phương pháp tỏ ra khá hiệu quả, cho kết quả nhanh chóng và ít tốn chi phí.3 Các nghiên cứu trước đây về năng suất lao động: 2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Mặc dù đã có một số nghiên cứu về năng suất lao động, nhưng vẫn chưa có sự đồng ý, tán thành nào dựa trên định nghĩa về hoạt động công việc cũng như một hệ thống đo lường năng suất chuẩn.
Các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng rất khó để có được một phương pháp chuẩn để đo năng suất lao động trong xây dựng bởi vì tính phức tạp của công trình và đặc điểm độc nhất của dự án xây dựng ( Oglesbly et al. Nghiên cứu của P.Olomolaiye và nhóm tác giả (1987) xác định ba yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến năng suất các tổ đội: thiếu vật tư, công cụ lao động không phù hợp và sự lặp lại các công việc. Nghiên cứu của David Arditi và Krishna Mochtar (1996) đã xác định các hướng cải tiến năng suất lao động. Đối với nhà thầu nên tập trung vào: qui trình mua sắm, kiểm soát chi phí, tiến độ và sự liên kết thống nhất; còn các nhà thiết kế nên tập trung vào thực hiện thiết kế, tận dụng công cụ máy tính vào việc lập, hoạch định tiến độ và thiết lập mục tiêu.
Nghiên cứu của A. Emsley (2001) đã thực hiện một so sánh các vấn đề ảnh hưởng đến năng suất lao động ở một số nước: Nghiên cứu lựa chọn 6 nhân tố ảnh hưởng nhất đến năng suất từ các nghiên cứu trước. Từ đây, thiếu vật tư là vấn đề ảnh hưởng nhất đến năng suất trên thế giới. Nghiệm thu chậm trễ ảnh hưởng đến các nước phát triển ít hơn các nước đang phát triển.
Trong khi đó, ảnh hưởng của công việc làm lại thì gần cùng mức độ, nhưng ở các nước phát triển chịu ảnh hưởng ít hơn từ sự vắng mặt. Các kết quả nghiên cứu ở các nước phát triển 8 được sắp xếp theo thứ tự, ngoại trừ Indonesia, điều này là do một cuộc phân tích nghiêm khắc không được thực hiện (Kaming et al.1: Bảng so sánh các vấn đề ảnh hưởng đến năng suất lao động ở một số nước. Emsley (2001) Nghiên cứu của A. Sinthawanarong (2004) đã xác định mười nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến năng suất xây dựng: thiếu vật tư, bản vẽ không đầy đủ, giám sát thiếu năng lực, thiếu công cụ và thiết bị, sự vắng mặt thường xuyên, thiếu thông tin liên lạc, mất thời gian cho việc làm quen vật liệu mới hoặc công nghệ mới, bố trí mặt bằng thi công công trường không hợp lý, nghiệm thu chậm trễ và công việc làm lại.
Nghiên cứu cũng đưa ra đề xuất để cải thiện năng suất bằng cách giảm bớt các nhân tố ảnh hưởng bất lợi đến năng suất và sự cải tiến này nên được tập trung vào mười nhân tố trên. Bởi vì, điều đó không chỉ làm cho nền công nghiệp xây dựng đạt được nhiều lợi nhuận hơn mà còn gia tăng cơ hội tồn tại trong môi trường cạnh tranh cao của các ngành công nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện khủng hoảng kinh tế. Ali (2005) đã nghiên cứu và chỉ ra được 50 yếu tố tác động lên năng suất lao động ở Malaysia. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra 5 nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất lao động là: Mức độ cung cấp vật tư, Chậm thanh toán dẫn đến chậm trễ trong cung ứng vật tư, thanh toán chậm cho nhà thầu chính, sự thiếu hụt nhân lực, thiếu kế hoạch cung ứng vật tư.