Đặt vấn đề Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người. Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân dành cho xây dựng là rất lớn. Vì vậy, CLCT xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế và đời sống của con người [1]. Trong thời gian qua, công tác QLCL công trình xây dựng, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến CLCT xây dựng đã có nhiều tiến bộ.
Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác QLCL công trình xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi… góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, xây dựng hàng triệu mét vuông nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hóa, thể thao… thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình nứt, sụt lún, thấm dột, bong dộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại. Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình. Hiện nay tại tỉnh Bến Tre bên cạnh một số công trình hoàn thành đạt chất lượng rất tốt, cũng còn tồn tại nhiều công trình chất lượng trung bình, phải điều chỉnh nhiều về thiết kế, sửa chữa khuyết tật trong quá trình thi công, cá biệt một vài công trình khi đến giai đoạn kiểm tra nghiệm thu thì có nhiều bộ phận không đạt chất lượng buộc phải sửa chữa hoặc làm lại.
Trong đó, có chất lượng CTXDDD thuộc các DA sử dụng vốn Nhà nước.NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ 2 GVHD2: TS.ĐỖ TIẾN SỸ Là người công tác trong ngành xây dựng tại cơ quan Nhà nước địa phương, trực tiếp tham gia công tác thẩm định thiết kế, QLCL thi công công trình và công tác kiểm tra nghiệm thu của CĐT, tác giả muốn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CTXDDD của các DA vốn Nhà nước tại Bến Tre nhằm nhận diện, đưa ra đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng cho công tác tại đơn vị và giúp các chủ thể tham gia thực hiện DA nhằm đảm bảo chất lượng khi công trình hoàn thành. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CTXDDD của các DA vốn Nhà nước tại Bến Tre. - Đánh giá, xếp hạng, xác định nhóm nhân tố chính của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CTXDDD của các DA sử dụng vốn Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre. - Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng cho các chủ thể tham gia thực hiện DA để công trình hoàn thành đạt chất lượng.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - Các DA đầu tư xây dựng công trình dân dụng tại tỉnh Bến Tre. - DA sử dụng vốn Nhà nước. - Đối tượng khảo sát là những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế, lập dự toán, QLDA, CĐT, nhà thầu thi công, giám sát thi công, đơn vị thẩm định thiết kế và QLCL công trình.NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ 3 GVHD2: TS.ĐỖ TIẾN SỸ CHƯƠNG 2. Các định nghĩa, khái niệm 2.
CLCT xây dựng Chất lượng là khái niệm có nguồn gốc rất lâu đời và đã được tài liệu hóa. Khái niệm chất lượng được hiểu đơn giản nhất là nó có thể đáp ứng mong đợi của người sử dụng, của khách hàng. Tuy nhiên, trong thực tế để hiểu đúng và đủ khái niệm chất lượng là rất phức tạp. Vì vậy, đánh giá CLCT xây dựng mang tính tương đối và trong một phạm vi nhất định [2].
Các giai đoạn thực hiện DA Công trình xây dựng là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước [4]. Giai đoạn lập DA đầu tư, thiết kế xây dựng công trình có sự tham gia của nhiều chủ thể [3]. Đơn vị tư vấn khảo sát thực hiện các bước xác định hiện trạng, khảo sát địa chất, địa hình để làm cơ sở thiết kế DA. Năng lực của nhà thầu khảo sát bao gồm các yếu tố về năng lực, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, thiết bị và cơ sở vật chất phòng thí nghiệm sẽ quyết định phương pháp khảo sát, tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng, biện pháp tổ chức thực hiện và tiến độ thực hiện sẽ quyết định chất lượng của hồ sơ khảo sát, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hồ sơ thiết kế và chất lượng thi công công trình sau này.
Trên cơ sở hồ sơ khảo sát, cùng với đề bài thiết kế DA, đơn vị tư vấn thiết kế sẽ thiết kế hồ sơ từ giai đoạn thiết kế cơ sở đến thiết kế bản vẽ thi công cùng với dự toán. Hồ sơ thiết kế phải đưa ra nhiều phương án, so sánh các phương án tối ưu về kinh tế - kỹ thuật để lựa chọn [3]. Vì vậy, để đảm bảo CLCT, trong giai đoạn thiết kế, các yếu tố tác động từ phía nhà thầu tư vấn bao gồm năng lực đơn vị tư vấn, năng lực nhân sự chủ chốt tham gia thiết kế, tiêu chuẩn áp dụng phù hợp, qui trình QLCL thiết kế, năng lực đơn vị thẩm định, thẩm tra và tiến độ thực hiện công việc.NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ 4 GVHD2: TS.ĐỖ TIẾN SỸ Chất lượng trong giai đoạn thi công xây dựng công trình có vai trò quyết định rất lớn đến CLCT xây dựng. Đây là giai đoạn có thời gian kéo dài, khối lượng công việc lớn trong đó bao gồm vai trò kiểm soát chất lượng của CĐT, vai trò giám sát CLCT của nhà thầu tư vấn giám sát và vai trò đảm bảo chất lượng của nhà thầu thi công.
Mỗi bên tham gia trong giai đoạn này đều là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến CLCT xây dựng. Đối với CĐT, năng lực về con người, năng lực QLCL, năng lực tài chính, và khả năng điều phối các bên liên quan có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát CLCT. Hỗ trợ CĐT để giám sát chất lượng, nhà thầu tư vấn giám sát cần phải có năng lực, nhân lực, thiết bị máy móc, kinh nghiệm thực thi quy trình giám sát chất lượng, kinh nghiệm giám sát, giám sát thí nghiệm chất lượng vật liệu đầu vào, kiểm soát tiến độ thi công DA. Để đáp ứng được các yêu cầu về kiểm soát chất lượng của CĐT, giám sát chất lượng của nhà thầu tư vấn, để đảm bảo CLCT, nhà thầu thi công cần phải có kinh nghiệm và năng lực, bản thân nhà thầu thi công phải có qui trình, biện pháp kiểm soát CLCT nội bộ có hiệu quả, có kinh nghiệm trong việc sử dụng máy móc thiết bị và vật liệu xây dựng để thi công, đồng thời phải sử dụng biện pháp thi công hợp lý thì mới đảm bảo CLCT xây dựng do qui chuẩn, tiêu chuẩn qui định, thõa mãn các yêu cầu của CĐT, tuân thủa các yêu cầu của giám sát CLCT.
CLCT xây dựng còn được quyết định trong giai đoạn vận hành, duy tu, bảo trì trong quá trình sử dụng. Công trình sau khi thi công hoàn thành đảm bảo chất lượng, nếu quá trình sử dụng không tuân theo các chỉ dẫn kỹ thuật, thiếu kính phí và bảo trì định kỳ sẽ đẫn đến công trình nhanh chóng xuống cấp. Thực tế, tại Việt Nam, rất nhiều công trình xuống cấp do quá trình vận hành và bảo trì, sử dụng hàng năm. Việc thiếu các qui trình QLCL công việc bảo trì, thiếu kinh phí bảo trì, sử dụng công trình sai chức năng, thiếu các kế hoạch bảo trì định kỳ làm cho công trình xây dựng nhanh chóng xuống cấp, CLCT không đáp ứng được yêu cầu vận hành, hoạt động.NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ 5 GVHD2: TS.ĐỖ TIẾN SỸ Khảo sát xây dựng, lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi/ Chấp thuận chủ trương đầu tư Giai đoạn chuẩn bị DA Lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết, lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi Phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi/ Quyết định đầu tư xây dựng Chuẩn bị mặt bằng xây dựng, khảo sát xấy dựng, lập, thẩm định thiết kế - dự toán xây dựng Phê duyệt thiết kế - dự toán xây dựng và kế hoạch lựa chọn nhà thầu Giai đoạn thực hiện Lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng xây dựng DA Thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng, tạm ứng – thanh toán khối lượng hoàn thành Vận hành, chạy thử, nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng, bàn giao công trình đưa vào sử dụng Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán DA Giai đoạn hoàn thành, bảo hành công trình xây dựng kết thúc DA Khai thác, vận hành, bảo trì công trình xây dựng Hình 2.1: Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng công trình GVHD1: TS.NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ 6 GVHD2: TS.ĐỖ TIẾN SỸ Phân loại, cấp công trình xây dựng như sau: Loại công trình xây dựng được xác định theo tính chất kết cấu và công năng sử dụng công trình.
Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Cấp công trình xây dựng phục vụ quản lý hoạt động đầu tư xây dựng quy định tại Luật này được xác định căn cứ vào quy mô, mức độ quan trọng, thông số kỹ thuật của công trình, bao gồm cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này [4].