chương 1 Nội dung của chương một có vai trò giới thiệu sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài; và trình bay mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu cũng. như những đóng góp có ý nghĩa của đề tài này. Bố cục của bài nghiên cứu được thiết kế năm chương của một nghiên cứu định tính kết hợp định lượng. của chương một sẽ là định hướng cho các chương nghiên cứu tiếp theo.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm liên quan 2. Giáo dục tiểu học. Giáo dục tiểu học là một thuật ngữ thuộc chuyên ngành giáo dục; là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục phổ thông, sau giáo dục mầm non và trước.
giáo dục trung học cơ sở. Quá trình đào tạo giáo dục tiểu học cũng như quá trình xây dựng một ngôi nhà. Khi xây nhà, phần nẻn móng là cơ bản và quan trọng nhất. Nếu nền móng.
không vững chắc thì chất lượng, sự tồn tại của ngôi nhà sẽ bị ảnh hưởng. Giáo dục tiểu học được xem như là cái nỀn móng của ngôi nhà đó. Đây là bậc học bắt buộc, có tính phổ cập đào tạo cho trẻ những cơ sở ban đầu cơ bản đề đặt cái nền mong vững chắc cho các bậc học trên. Đồng thời giúp trẻ phát triển, hình thành đúng đắn về phẩm chất và năng lực (trí tuệ và thể chất) cũng như trang bị kiến thức, kỹ năng để trẻ có hành trang tốt nhất trước khi theo đuôi các chương trình học tiếp theo.
Giáo dục tiêu học là hoạt động có tẩm chiến lược lâu dài trong việc đảo tạo trẻ em. trở thành công dân tốt cho dat nước. Ở Việt Nam, các trẻ em thường có độ tuôi từ sáu tuổi sẽ bắt đầu tham gia vào cấp bậc tiểu học, được đảo tạo trong vòng năm năm từ lớp 1 đến lớp 5. dục tiểu học được áp dụng và thực hiện qua hệ thống các trường tiểu học trên toàn khu vực.
Mặc di quy mô và chất lượng của mỗi trường tiểu học khác nhau; nhưng. tất cả các trường đều phải dạy các trẻ em theo chương trình giáo dục tiểu học do Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam quy định. “Theo khoản 3, Điều 27 - Luật Giáo dục, 2005 thì cấp độ giáo dục tiêu hoc [8] “giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dai về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thâm mỹ và các kỹ năng cơ bản đề học sinh tiếp tục. học trung học cơ sở.
Khái niệm “viên chức” Tại Điều 2 Luật Viên chức 2010 có hiệu lực từ 01/01/2012, có quy định như sau [7] “Vién chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc; hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Trên cơ sở đó, viên chức là những người làm các công việc mang tính phục vụ; cung cắp cho người dân các nhu cầu vẻ các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao. tại các đơn vị sự nghiệp công lập. “Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường tiểu học được tô chức theo hai loại hình: công lập vả tư thục.
Trường Tiêu học Thắng Nhì là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục cắp tiểu học do Nha nước thành lập: đầu tư xây dựng cơ sở vật chất: đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chỉ thường xuyên. Trường, hoc Thing Nhi n riêng và các trường, tiểu học nói chung bao gồm các đối tượng viên chức vả người lao động. Đội ngũ viên chức làm việc trong ngành giáo dục nói chung và tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục tiểu học công lập nói riêng chịu sự chỉ phối của Luật Giáo. dục và Luật chức bao gồm đối tượng giáo viên và đối tượng công nhân viên thực hiện công tác văn phòng thuộc biên chế viên chức, do nguyện vọng của các viên chức trúng tuyển vào biên chế.
Giáo viên học 'TTheo từ điển Tiếng Việt - Viên ngôn ngữ học (2004) [14] thì “Giáo viên là người giảng dạy ở các trường phổ thông hoặc tương đương”.395] Theo Khoản 3, Điều 70 của Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 và Khoản 23, Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Giáo dục năm 2005 thi (8] “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giáng dạy, giáo dục trong nhả trường, cơ sở giáo dục khác; giữ vị thế quan trọng trong xã hội; và có vai trò quyết định trong. việc bảo đảm chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh. Nhà giáo giảng day 6 co sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên”.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm tổng quát nhất: Giáo viên tiêu học là nguôn nhân lực có tri thức chất lượng cao của ngành giáo dục: được xã hội giao cho nhiệm vụ giáo dục, đảo tạo học sinh tại các cơ sở giáo dục tiểu học. Giáo viên tiểu học sẽ trực tiếp giảng đạy các môn văn hóa, khoa học và các hoạt đông giáo dục khác; đồng thời giúp các em hình thành những giá trị đạo đức, nhân cách cơ bản. Cho nên vai trò của giáo viên tiểu hoc là đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp trồng người. Do đó, giáo viên tiểu học phải có năng lực chuyên môn tốt; vững vàng tay nghề; phẩm chất đạo đức tốt; có lương tâm nghẻ nghiệp; năng động, sáng tạo; đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn đặc thù về nghẻ nghiệp, các loại chứng chỉ theo từng hạng, ngạch chức danh nghề nghiệp theo quy định.
Theo Thông tư số: 22/2004/TT-BGDĐT [11] quy định giáo in lam công tác giảng dạy trong các trường trung hoc phỏ thông cấp tiểu học gồm có giáo viên tiểu học dạy các môn văn hóa và giáo viên dạy các bộ môn: thể dục, âm nhạc, mỹ thuật, tin học, ngoại ngữ, giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong. Hỗ Chí Minh. Theo quy định chuẩn nghề nghiệp, kỹ năng của Bộ Giáo dục và đảo. tạo thì đối với cấp tiểu học, tiêu chuẩn về trình độ của giáo viên tiểu học là có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm tiểu học hoặc trung cấp sư phạm các chuyên ngành phù hợp với bộ môn giảng dạy trở lên; trên chuân là cao đăng, đại học và sau đại học.
Công nhân viên Tùy theo cấp học, bậc học, loại trường mà gồm các nhân viên trường học theo danh mục vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc theo Thông. tư Số: 16/2017/TT-BGDĐT [10] gồm các nhân viên sau: Nhân viên Thư viện; Thiết bị, thí nghiệm; Công nghệ thông tin; Kế toán; Thủ quỹ; Văn thư; Y tế; Hỗ trợ giáo. dục người khuyết tật; Giáo vụ (áp dụng đối với trường dành cho người khuyết tật) đều được bố trí viên chức hoặc hợp đồng lao động để thực hiện công tác hỗ trợ phục. vụ có vai trò quan trọng, góp phần vào sự thành công của mỗi nhà trường.
Trong các công việc hỗ trợ phục vụ, có công việc hỗ trợ trực tiếp công tác chuyên môn, dạy và học của nhà trường như: công tác thư viện, thiết bị thí nghiệm, công nghệ thông tin; có công việc hỗ trợ công tác quản lý và điều hành như: ‘an thư, tài chính kế toán. tất cả đều không thể thiếu trong các nhả trường. Căn cứ vào quy mô khối lượng công việc thực tế, nhu cầu và vị trí việc làm. của từng trưởng mà các nhóm vị trí nhân viên trường học được bố trí số lượng người phù hợp; bảo đảm quy định tuần làm việc 40 giờ.
Họ có thể xếp hưởng ngạch như giáo viên (viên chức giáo dục) được hưởng đầy đủ chế độ, quyền lợi, chính sách nhà nước theo quy định như giáo viên. Hiện nay đa số các nhân viên trên đa số có trình độ trung cấp, cao đẳng vì ở vị trí đó yêu cầu trình độ như trên là phù hợp, đáp ứng yêu cầu công việc. Khái niệm “Người lao động” Tại Khoản 1 Điều 3 Bộ Luật Lao động năm 2012 [6] định nghĩa: Người lao động là người đủ 15 tuôi trở lên; có khả năng lao đông, làm việc theo hợp đồng lao. động: được trả lương; và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động tạo ra các sản phẩm về vật chất hoặc tinh thần bằng sức lao động hoặc trí óc.
Người lao động dang công tác tại các tổ chức bậc giáo dục tiểu học công lập gồm các giáo viên, nhân viên văn phòng và nhân viên hỗ trợ, phục vụ trong trường, đảm nhiệm một số công việc khác nhau bao gồm lao công, bảo vệ, nhân viên bán trú. Hiệu trưởng ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản xác định có thời hạn từ 12-60 tháng về tiền lương; chế độ đãi ngộ: điều kiện làm việc quyển và nghĩa vụ với người lao đông để thực hiện nhiệm vụ giảng day, công tác hành chính, nấu ăn, vệ sinh và bảo vệ với số người tủy theo nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp; số lượng học sinh và quỹ tiền lương của nhà trường. Người lao động sẽ chịu sự chỉ phối của Luật Lao động. Động lực Trước khi xét đến khái niệm về động lực làm việc thì trước tiên cần phải hiểu thế nào là động lực.
“Theo từ điển Tiếng Việt (1996) [9]. đông lực là "năng lượng làm cho máy. Nam 1994, Higgins [20] đưa ra khái niệm “động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. ‘Tap chi British Journal of Educational Psychology [17] dinh nghia: "Động lực là lý do đê thực hiện hành vi".
Mitchell [23] đã đưa ra quan điểm rằng: Đông lực là một mức độ mả một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Cén theo Bolton (2010) [16] thì động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tô được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu. Từ những khái niệm và cách hiểu khác nhau về động lực, cách hiểu chung. nhất là: Động lực là yếu tố tạo ra lý do khiến con người hành động: và thúc đây, động viên con người thực hiện những hành vi nhằm đạt được mục tiêu gắn lién với việc thỏa mãn nhu cầu của con người.