Chương 1 đã tóm tắt một số nghiên cứu chính đã công bố trong nước cũng như trên Thế giới liên quan đến đề tài nghiên cứu. Dựa vào hiểu biết về tình hình nghiên cứu hiện nay, tác giả phát hiện được khoảng trống nghiên cứu để làm căn cứ xác định tính cấp thiết của đề tài. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cảm nhận áp lực từ DNKT của KTV ở Tp HCM. 123doc 10 CHƯƠNG 2.
Tổng quan về áp lực mà KTV cảm nhận từ doanh nghiệp kiểm toán Sự phức tạp giữa mục tiêu hoạt động của DNKT và xung đột tiềm tàng giữa mục tiêu kinh doanh với mục tiêu nghề nghiệp là một chủ đề đã được nghiên cứu khá nhiều, đặc biệt là sau sự sụp đổ của công ty kiểm toán Arthur Andersen. Để hoạt động trong lĩnh vực này DNKT phải duy trì các tiêu chuẩn chất lượng nghề nghiệp và khả năng thương mại (chấp nhận hợp đồng kiểm toán với giá phí thấp) đây chính là xung đột giữa chi phí và chất lượng (Mc Nair 1991, Otley & Pierce 1996, Pierce & Sweeney 2004). Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng văn hóa của các công ty kiểm toán đã thay đổi, họ ngày càng ưu tiên mục tiêu kinh doanh hơn, lợi nhuận được coi là mục tiêu chủ đạo trong hoạt động. Mặc dù các công ty kiểm toán vẫn thể hiện mục tiêu đối với khách hàng và người sử dụng BCTC là chất lượng và sự hài lòng, còn mục tiêu đối với nhân viên là sự hài lòng và phát triển của đội ngũ nhân viên (Sweeney & McGarry 2011).
Thị trường kiểm toán ngày càng cạnh tranh nhiều hơn trong những thập kỷ vừa qua, do đó các công ty đua nhau giảm giá phí để tăng khả năng cạnh tranh. Lúc này, KTV sẽ chịu áp lực do việc cắt giảm phí kiểm toán nhưng vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp và chất lượng kiểm toán. Áp lực cảm nhận có thể được định nghĩa là việc nhận thức về tình huống nghiêm trọng có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng tinh thần hoặc thể chất tùy thuộc vào phản ứng sinh lý, tâm lý và ứng xử của một cá nhân đối với áp lực cảm nhận (Lord & DeZoort 2001). Thay vì trực tiếp giải quyết xung đột giữa chi phí và chất lượng kiểm toán, kết quả nghiên cứu của McNair (1991) nhận thấy rằng các DNKT thường thỏa hiệp ngầm với KTV, tuy nhiên sự thỏa hiệp này không được công khai một cách chính thức.
Một trong những cách kiểm soát chi phí hiệu quả nhất trong cuộc kiểm toán là thông qua sự kiểm soát thời gian (Otley & Pierce 1996). McNair (1991) cũng cho rằng kiểm soát thời gian phản ánh xung đột giữa các mục tiêu của DNKT. Kiểm 123doc 11 soát thời gian được sử dụng để lập kế hoạch kiểm toán và đánh giá năng lực làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, kiểm soát thời gian quá chặt chẽ có thể gây ra các hành vi bất thường (Pierce & Sweeney 2004, McNair 1991, Boyd 2000) ví dụ như báo cáo thấp hơn số giờ thực tế làm việc, thay đổi số giờ làm việc của các khách hàng với nhau, thực hiện công việc kiểm toán không đảm bảo chất lượng.
DeZoort and Lord (1997) cho rằng áp lực thời gian bao gồm áp lực ngân sách thời gian và áp lực phát hành báo cáo đúng thời hạn. Áp lực ngân sách thời gian (The time budget pressure) Các nghiên cứu trước đây đã đánh đồng áp lực thời hạn với áp lực ngân sách thời gian (Pierce & Sweeney 2004). Áp lực ngân sách thời gian hay áp lực để thực hiện cuộc kiểm toán ít hơn thời gian cần thiết xảy ra khi một DNKT phân bổ ngân sách thời gian kiểm toán dự kiến căn cứ theo số giờ đã hoàn thành của năm trước để hoàn thành các thủ tục kiểm toán ít hơn tổng thời gian thực tế có thể hoàn thành các thủ tục kiểm toán (McNair 2001). KTV vượt quá ngân sách thời gian có thể do: độ phức tạp của công việc tăng lên, những vấn đề ngoài ý muốn gây ra bởi khách hàng, KTV làm việc không hiệu quả và ngân sách thời gian phân bổ là không thực tế (Shapeero et al 2003).
Ngân sách thời gian được thiết lập như là một cơ chế kiểm soát và công cụ đo lường hiệu suất trong các DNKT nên KTV nhận thấy mình được đặt trong một “khu vực của sự thỏa hiệp” (McNair 1991). Khi chấp nhận một hợp đồng kiểm toán, chủ phần hùn hoặc giám đốc kiểm toán sẽ chịu trách nhiệm xác định tổng ngân sách thời gian và cơ cấu chi phí cho cuộc kiểm toán, còn trưởng nhóm kiểm toán/kiểm toán chính sẽ phân chia ngân sách thời gian cho từng giai đoạn kiểm toán. Do đó, trưởng nhóm kiểm toán/kiểm toán chính phải đối mặt với vấn đề khó khăn đó là vừa phải thực hiện cuộc kiểm toán với chất lượng cao, vừa phải đảm bảo thời gian làm việc trong ngân sách cho phép. Trong trường hợp này, KTV sẽ không dám thảo luận vấn đề áp lực ngân sách thời gian với cấp trên của mình vì sợ cấp trên sẽ đánh giá họ không đủ năng lực (McNair 1991).
123doc 12 Áp lực ngân sách thời gian có thể ảnh tiêu cực đến chất lượng kiểm toán và dẫn đến các hành vi bất thường (Pierce & Sweeney 2004). Nếu KTV tin rằng số giờ dự kiến do công ty đặt ra là không đủ để đạt được kết quả mong muốn thì KTV sẽ ứng xử để đáp ứng số giờ dự kiến hoặc làm nhiều hơn số giờ dự kiến bằng việc tham gia vào các hành vi bất thường như giảm chất lượng kiểm toán (Quality- threatening behaviour QTB) hoặc báo cáo ít hơn số giờ thực tế (Under-reporting of time URT) (McNamara & Liyanarachchi 2008, Pierce & Sweeney 2004): Nếu KTV chọn cách ứng xử thứ nhất, thì họ sẽ có các hành vi bất thường đe dọa chất lượng kiểm toán như không thu thập đủ bằng chứng thích hợp, không mở rộng các thủ tục kiểm toán khi có sai sót được phát hiện, chấp nhận các bằng chứng kiểm toán đáng nghi, bỏ qua một số thủ tục kiểm toán quan trọng, chấp nhận sự giải thích không hợp lý từ khách hàng hoặc soát xét thiếu thận trọng bằng chứng do khách hàng cung cấp (De Zoort & Lord 1997, McNair 1991, Soobaroyen & Chengabroyan 2006). Một trong những hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán được nghiên cứu rộng rãi đó là premature sign-off, Otley & Pierce (1996) định nghĩa premature sign-off là “KTV phát hành ý kiến kiểm toán khi chưa hoàn thành hết các thủ tục kiểm toán cần thiết”. Khi KTV lựa chọn cách ứng xử thứ hai, thì họ có thể có hành vi bất thường khác là báo cáo ít hơn số giờ thực tế (De Zoort & Lord 1997).
Trong trường hợp này, KTV làm việc nhiều giờ hơn so với dự kiến, tuy nhiên lại báo cáo số giờ làm việc ít hơn số giờ thực tế đã làm để đáp ứng được ngân sách thời gian đặt ra. Các nghiên cứu trước cho thấy khả năng đạt được ngân sách thời gian là một yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực và sự thăng tiến của KTV, do đó việc báo cáo ít hơn thực tế đã là một thực tế phổ biến của các KTV. Trong các quy định của DNKT, báo cáo ít hơn số giờ thực tế là hành vi bị cấm. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho rằng các nhà quản lý thường ngầm định khuyến khích nhân viên báo cáo ít hơn số giờ thực tế đã làm, hành vi 123doc 13 này dẫn đến hậu quả không lường trước được như việc đánh giá nhân viên không chính xác, mất doanh thu cho công ty kiểm toán, số giờ dự toán trong tương lai không thực tế vì số giờ dự toán thường được dựa vào số giờ được báo cáo thấp hơn thực tế của năm trước, giảm chất lượng hoạt động kiểm toán trong tương lai vì KTV có áp lực ngân sách thời gian từ số giờ dự toán thấp (Otley & Pierce 1996, Svanberg & Ohman 2013, Sweeney & Pierce 2006, Soobaroyen & Chengabroyan 2006).
Áp lực thời hạn (The time deadline pressure) Hiện nay, với tình trạng thiếu hụt nhân viên trong khi nhu cầu kiểm toán tăng cho thấy áp lực ra báo cáo đúng thời hạn ngày càng tăng trong các công ty kiểm toán (DeZoort and Lord 1997). Áp lực thời hạn là áp lực để hoàn thành báo cáo kiểm toán đúng hạn quy định và trong thời gian gấp rút (Pierce & Sweeney 2004), áp lực thời hạn đặc biệt xảy ra trong mùa cao điểm. Bình thường, thời gian giành cho một cuộc kiểm toán từ 3-4 ngày, tuy nhiên vào mùa cao điểm thời gian giành cho cuộc kiểm toán bị rút ngắn xuống. Với thời gian gấp rút, khối lượng công việc nhiều và dồn dập, các KTV phải chịu áp lực rất lớn.
Do đó, khi cảm nhận áp lực thời hạn, KTV sẽ tham gia vào hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán bằng cách giảm thời gian cần thiết cho công việc kiểm toán để nâng cao khả năng đáp ứng thời hạn ví dụ như không thu thập đủ bằng chứng thích hợp, không mở rộng các thủ tục kiểm toán khi có sai sót được phát hiện (Pierce & Sweeney 2004). Áp lực thời hạn khác với áp lực ngân sách thời gian là khi KTV đang phải đối mặt với áp lực thời hạn, báo cáo thấp hơn số giờ làm thực tế không phải là giải pháp để KTV ra báo cáo đúng thời hạn. Áp lực để thực hiện cuộc kiểm toán không đủ chuyên môn cần thiết Một trong những cách khác để giảm chi phí nhân công đó tăng tỷ trọng lao động có chi phí thấp. Đối với DNKT thì lao động có chi phí thấp là những nhân viên có ít kinh nghiệm kiểm toán như sinh viên thực tập hoặc trợ lý kiểm toán 123doc 14 (Boyd 2004).
Đây được cho là một chiến lược thông minh để gia tăng lợi ích của việc cung cấp dịch vụ kiểm toán với giá phí rẻ tại thời điểm rất cạnh tranh về giá khi áp lực để giảm chi phí kiểm toán ngày càng cao. Tuy nhiên kinh nghiệm, năng lực chuyên môn kiểm toán và sự am hiểu trong nhiều lĩnh vực hoạt động ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng kiểm toán (Đinh Thị Thanh Mai, 2014). Nếu KTV được giao thực hiện công việc kiểm toán mà không đủ kinh nghiệm và chuyên môn cần thiết thì sẽ tạo ra áp lực đối với KTV và đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với chất lượng kiểm toán bởi vì khả năng phát hiện sai sót và sai phạm sẽ giảm (Espinosa- Pike, M.