ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (năm 2017), điều dưỡng và nữ hộ sinh chiếm gần 50% (20,7 triệu người) trong lực lượng nhân viên y tế (NVYT) (1). Nguồn nhân lực điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, thể hiện qua việc duy trì và thúc đẩy sự an toàn của bệnh nhân do tính chất công việc của họ (2). Do vậy, các nhà quản lý luôn phải tìm ra những chính sách, những cách thức khác nhau để tạo động lực làm việc (ĐLLV) cho nhân viên của mình, để có thể đưa ra một quyết định đúng đắn nhà quản lý cần phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ĐLLV của NVYT (3). ĐLLV của NVYT thể hiện hành vi của họ tại nơi làm việc, ảnh hưởng lớn đến kết quả của hệ thống y tế.
ĐLLV kém thì có thể dẫn đến làm giảm chất lượng cung cấp dịch vụ y tế (DVYT) và đẩy người lao động ra khỏi nghề. Chất lượng dịch vụ y tế, hiệu quả, khả năng tiếp cận và khả năng sống của người bệnh phụ thuộc vào hiệu suất của các NVYT cung cấp các dịch vụ này, vì vậy điều quan trọng là phải xem động lực nhân sự và phát triển là một trong những trọng tâm của chính sách y tế (4). ĐLLV hay động viên, khuyến khích nhân viên làm việc là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhân lực không những trong hệ thống y tế mà còn bất kỳ hệ thống nào (5). Trong bối cảnh làm việc hiện nay, sự hiện diện của các điều dưỡng có ĐLLV trong một dịch vụ sẽ mang đến hiệu suất tốt hơn và mức độ hài lòng cao của người bệnh, người nhà người bệnh, ngay cả khi các đặc điểm DVYT khác nằm dưới các tiêu chuẩn được khuyến nghị cho các tổ chức y tế (6), (7).
ĐLLV có liên kết chặt chẽ đối với sự hài lòng về công việc, điều mà có thể giữ người lao động gắn bó lâu dài với công việc đó. Động lực của điều dưỡng đóng vai trò lớn trong cải thiện chất lượng dịch vụ của điều dưỡng, sự sẵn lòng của NVYT để vượt qua rào cản đối với điều kiện làm việc (8), khuyến khích niềm đam mê công việc. Tại Việt Nam, nghiên cứu động lực của điều dưỡng đã được thực hiện tại nhiều nơi với điểm trung bình động lực từ 3,5/5-4/5 điểm như nghiên cứu của Tạ Công Đạt vào năm 2019 tại Tiền Giang, điểm trung bình động lực làm việc là 3,56 điểm (9). 2 Động lực làm việc của điều dưỡng có thể quan sát trực tiếp, được xác định là rất quan trọng đối với việc duy trì và thực hiện của NVYT (6), (7).
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa ĐLLV của nhóm yếu tố thu nhập chính với yếu tố giới tính, sự thành đạt với yếu tố giới tính, sự thăng tiến với yếu tố thu nhập chính trong gia đình (10). Trình độ chuyên môn, tuổi, loại bệnh viện, các yếu tố thúc đẩy phi tài chính như điều kiện làm việc, chế độ chính sách, đào tạo, phát triển và giao tiếp với đồng nghiệp, văn hóa đơn vị là những yếu tố dự báo mạnh mẽ cho ĐLLV của NVYT (11), (12). Bệnh viện K là bệnh viện hạng I, chuyên khoa Ung bướu, với quy mô giường bệnh thực kê tại là 1.674, giường bệnh kế hoạch là 2. Tổng số nhân lực điều dưỡng hiện nay vào đầu năm 2021 là 722, trong đó điều dưỡng tại các khoa lâm sàng là 635 cán bộ, chiếm 87% tổng số điều dưỡng toàn viện (gồm 3 khối Lâm sàng, Cận lâm sàng, Hành chính) (13).
Theo kết quả đánh giá sự hài lòng NVYT của bệnh viện, tỷ lệ hài lòng của điều dưỡng (72%) thấp hơn so với bác sỹ (86%). Bệnh viện K hiện có tới 3 cơ sở và đang trong cơ chế hoàn thiện tự chủ bệnh viện, điều này cũng làm áp lực làm việc của NVYT ngày càng tăng. Tác động tới ĐLLV của NVYT trong đó có đối tượng điều dưỡng sẽ góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh. Nghiên cứu của chúng tôi với mục đích tìm hiểu thực trạng ĐLLV của điều dưỡng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng như thế nào? Vì vậy, nghiên cứu được tiến hành với đề tài:“Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới động lực làm việc của điều dưỡng Lâm sàng tại Bệnh viện K, năm 2021” được thực hiện với mục đích giúp các nhà quản lý có thêm các thông tin để duy trì và phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực tốt cho điều dưỡng, thúc đẩy sự phát triển chung của Bệnh viện K.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả động lực làm việc của điều dưỡng khối lâm sàng tại Bệnh viện K, năm 2021. Phân tích một số yếu tố liên quan tới động lực làm việc của điều dưỡng khối lâm sàng tại Bệnh viện K, năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Nhân lực y tế Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y…) (14).
Từ định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam, các nhóm đối tượng được coi là nhân lực y tế bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang công tác trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y, bà đỡ, mụ vườn) (15). Quản lý nguồn nhân lực Theo Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO), quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo hoàn thành tốt một công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất, chức năng của quản lý nguồn nhân lực gồm: (1) thu hút nguồn nhân lực, (2) đào tạo và phát triển, (3) duy trì nguồn nhân lực gồm 2 chức năng là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong tổ chức (15). Động lực và động lực làm việc “Động lực là các quá trình thể hiện cường độ, định lượng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” (16). 5 ĐLLV của NVYT bị tác động bởi nhiều yếu tố bao gồm giá trị riêng của NVYT, đạo đức nghề nghiệp, sự trả công, môi trường làm việc, sự hỗ trợ của hệ thống y tế,… Kỹ năng và năng lực làm việc của NVYT không được tận dụng nếu động lực làm việc của NVYT yếu kém, muốn NVYT có động lực làm việc tốt cần phải đề cao giá trị đạo đức của NVYT, trả công thỏa đáng, tạo môi trường làm việc tốt và các việc hỗ trợ cho NVYT, đặc biệt là đảm bảo có đầy đủ các trang thiết bị, thuốc thiết yếu, cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin y tế (17).
Vai trò của người điều dưỡng, chức năng điều dưỡng 1. Vai trò của người điều dưỡng Người chăm sóc: Chăm sóc là mối quan hệ giữa người với người. Mục tiêu cơ bản của người điều dưỡng là thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người bệnh bằng hành động và bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của người bệnh và chấp nhận người bệnh là một con người. Theo Benner và Wrubel thì “Chăm sóc là yếu tố cơ bản để thực hành điều dưỡng hiệu quả”.
Trong bệnh viện, mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thay thế được sự chăm sóc của người điều dưỡng vì các thiết bị này sẽ không tác động được tới cảm xúc và điều chỉnh hành động cho thích ứng với những nhu cầu đa dạng của mỗi người bệnh. Chăm sóc là nền tảng của mọi can thiệp điều dưỡng và là một thuộc tính cơ bản của người điều dưỡng (18). Người truyền đạt thông tin: Thông tin có hiệu quả là yếu tố thiết yếu của mọi nghề phục vụ trong đó có nghề điều dưỡng. Giao tiếp quy định mối quan hệ giữa người bệnh và người điều dưỡng, giữa người điều dưỡng và đồng nghiệp cũng như các NVYT khác.
Nó có vai trò trong hoạt động của người điều dưỡng. Giao tiếp hỗ trợ cho mọi can thiệp điều dưỡng. Người điều dưỡng thông tin với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch và thực hiện kế hoạch chăm sóc cho mỗi người bệnh (18). Người giáo viên: Giảng dạy liên quan tới các hoạt động mà người giáo viên hỗ trợ người học trong việc học tập.
Nó là một quá trình tác động qua lại giữa người giáo viên với một hoặc một số người học. Sự thay đổi hành vi thường đòi hỏi tới 6 những kiến thức, thái độ và kỹ năng mới. Trong bệnh viện, việc giảng dạy của người điều dưỡng như cho học sinh thực tập, truyền đạt kiến thức mới sau khi được cử đi tập huấn, đào tạo…(18). Người tư vấn: Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh để nhận biết và đương đầu với những căng thẳng về tâm lý hoặc những vấn đề xã hội, để cải thiện các mối quan hệ giữa người với người và để thúc đẩy sự phát triển của mỗi người.
Người điều dưỡng khuyến khích người bệnh tìm kiếm những hành vi thay thế, nhận ra sự lựa chọn và xây dựng ý thức tự kiểm soát. Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc một nhóm người (18). Người biện hộ cho người bệnh: Biện hộ nghĩa là hành động thay mặt hoặc bảo vệ quyền lợi cho người khác. Vì vậy, biện hộ nghĩa là thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm cho những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng (18).
Ngoài ra, người điều dưỡng còn có vai trò là người lãnh đạo, người quản lý, người làm công tác nghiên cứu điều dưỡng và là những chuyên gia giỏi về chăm sóc lâm sàng.