Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm động lực làm việc Động lực làm việc ngày nay đã trở thành khái niệm phổ biến và được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc đã được nghiên cứu công bố.
Theo Mitchell (1982) động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động (6). Crossman & Abou Zaki (2003) là những hành động khuyến khích như bản thân công việc, “tiền lương, sự thăng tiến, giám sát và mối quan hệ với đồng nghiệp” có thể ảnh hưởng đến thái độ, hành vi và xác định được mức độ đam mê, cam kết, sự tham gia, sự tập trung (8). Theo giáo trình “Quản trị nhân lực” của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” (10).
Giáo trình “Hành vi tổ chức thì động lực làm việc” được định nghĩa là “động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân của người lao động” (11). Khái niệm về điều dưỡng 4 Ngày nay, “điều dưỡng đã xây dựng được một nền tảng khoa học vững chắc bào gồm nhiều học thuyết điều dưỡng, hệ thống lý luận làm nền tảng cho thực hành nghề nghiệp, và nghiên cứu khoa học được đăng tải trên rất nhiều tạp chí khoa học uy tín”. Từ đó thuật ngữ điều dưỡng đã được nhiều tác giả và các tổ chức khác nhau định nghĩa (12).
Florence Nightingale cho rằng: “Điều dưỡng là nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ. Vai trò trọng tâm của điều dưỡng là giải quyết các yếu tố môi trường xung quanh bệnh nhân để họ phục hồi sức khỏe một cách tự nhiên” (Lý thuyết về khoa học vệ sinh) (13). Theo Hội điều dưỡng thế giới năm 1973, “điều dưỡng là chăm sóc hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động hằng ngày. Chức năng nghề nghiệp cơ bản của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khỏe bệnh nhân hoặc người khỏe, cũng như làm cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá nhân có thể thực hiện được nếu như họ có đủ sức khỏe, ý chí và kiến thức, giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt” (13).
Một số học thuyết tạo động lực 1. Hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Maslow Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: “Nhu cầu cơ bản” (Basic needs) và “nhu cầu bậc cao” (Meta needs) (14). Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi. Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh. Theo Abraham Maslow, “con người có những cấp độ khác nhau về nhu cầu. Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ “cơ bản” đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Khi những nhu cầu ở cấp độ thấp được thỏa mãn, một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành động lực thúc đẩy” (14).
Tháp nhu cầu của Maslow Tầng thứ nhất: “Nhu cầu sinh lý, các nhu cầu căn bản nhất thuộc như thở, thức ăn, nước uống, tình dục, nghỉ ngơi, nơi trú ngụ, bài tiết”. Tầng thứ hai: “Nhu cầu an toàn- cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo”. Tầng thứ ba: “Nhu cầu được giao lưu tình cảm và có ràng buộc về mặt xã hội muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy”. Tầng thứ tư: “Nhu cầu được quý trọng, kính mến - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng”.
Tầng thứ năm: “Nhu cầu về tự thể hiện bản thân - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt” (14). Học thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg Lý thuyết gia quản lý người Hoa Kỳ, Frederick Herzberg đã giải thích sự thúc đẩy của con người một cách hoàn toàn khác. Ông đưa ra hai tập hợp các yếu tố thúc đẩy làm việc và gọi tập hợp thứ nhất là: Yếu tố duy trì. Nhóm này chỉ có tác dụng duy trì trạng thái tốt, ngăn ngừa các “chứng bệnh”, nhưng không làm cho con người 6 hành động tốt hơn.
Các yếu tố duy trì bao gồm thu nhập, sự quản lý, giám sát và điều kiện làm việc (15). Các “yếu tố duy trì” thúc đẩy mức độ thỏa mãn trong công việc, đó là một môi trường làm việc đảm bảo vệ sinh và an toàn, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, sự giám sát và giá trị vật chất nhận được. Nếu điều kiện làm việc nghèo nàn, môi trường là không an toàn, việc giám sát là yếu kém thì sẽ dẫn đến sự không thỏa mãn và chất lượng công việc không đảm bảo. Khi các yếu tố duy trì được thỏa mãn, đôi khi người ta lại coi đó là điều tất nhiên.
Nhưng nếu không có yếu tố duy trì, nhân viên sẽ trở nên bất mãn, năng suất và hiệu quả bị giảm sút (15). Thứ hai là: “Yếu tố thúc đẩy” bao gồm sự thành đạt, những thách thức, tiến bộ, sự quan tâm đến công việc, sự nhìn nhận, trách nhiệm, sự thăng tiến và phát triển là các yếu tố khuyến khích thực sự. Nếu các “yếu tố thúc đẩy” là yếu tố liên quan đến nội dung công việc, thì các “yếu tố duy trì” lại liên quan đến phạm vi của công việc. Khi thiếu vắng các “yếu tố thúc đẩy”, nhân viên sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc, sẽ gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần của nhân viên (15).
Thuyết Frederick Herzberg cho chúng ta các bài học quý báu: các “yếu tố duy trì” cần có trước thì các “yếu tố thúc đẩy” mới có tác dụng (15). Thực trạng động lực làm việc của NVYT trên thế giới và Việt Nam 1. Trên Thế giới Năm 2013, Mutale và cộng sự nghiên cứu đánh giá động lực làm việc của NVYT ở ba quận nông thôn của Zambia, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá động lực làm việc dựa trên mức độ của NVYT “hài lòng công việc, động lực chung, áp lực công việc, tổ chức, sự tận tâm và đúng thời gian” sau đó đánh giá mức độ động lực làm việc chung.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nữ có số điểm động lực làm việc cao hơn nam (trung bình là 78,5 (7,8) so với nam là 74,1 (7,0)). Phân theo công việc thì NVYT có điểm trung bình cao nhất, trong khi đó nhân viên kiểm soát môi trường y tế có số điểm thấp nhất (77,4 (7,8) so với 73,2 (9,3)). NVYT làm việc trong thời 7 gian dài hơn (> 7 tháng) có điểm động lực làm việc cao hơn. Nhân viên được tập huấn trong 12 tháng thì có điểm động lực làm việc cao hơn (16).
Năm 2014, Marc Bohnenberger và cộng sự đã tiến hành điều tra cắt ngang và phỏng vấn 256 NVYT (bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ và các NVYT khác) về ý định rời khỏi cơ sở y tế hiện tại của họ cũng như hiểu biết của họ về các khía cạnh khác nhau của động lực và sự hài lòng với công việc của 3 huyện khu vực miền Đông Ghana. Kết quả nghiên cứu cho thấy 69% người được hỏi là có ý định bỏ việc. Động lực (OR = 0,74; 95% CI = 0,60-0,92) và sự hài lòng với công việc (OR = 0,74; 95% CI = 0,57-0,96) có liên quan đáng kể tới ý định bỏ việc. Các yếu tố của động lực và sự hài lòng đối với công việc liên quan đến ý định bỏ việc bao gồm: “phát triển sự nghiệp, khối lượng công việc, quản lý, cam kết với tổ chức và tình trạng quá tải công việc” (17).
Năm 2014, Danesh Kohan A và cộng sự (18) làm một cuộc khảo sát cắt ngang được thực hiện với sự tham gia của 212 nhân viên y tế của các trung tâm y tế Tehran của Iran. Công cụ thu thập dữ liệu là một bảng câu hỏi do nhà nghiên cứu phát triển bao gồm 17 yếu tố thúc đẩy và 6 yếu tố duy trì và 8 câu hỏi để đánh giá hiện tại tình trạng của một số yếu tố. Tính hợp lệ và độ tin cậy của công cụ đã được tác giả kiểm định. Các yếu tố thúc đẩy chính đối với nhân viên y tế là quản lý tốt, giám sát và hỗ trợ của người quản lý, mối quan hệ làm việc tốt với đồng nghiệp.
Mặt khác, đối xử không công bằng, quản lý kém và thiếu đánh giá cao là những yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc. Hơn nữa, 47,2% nhân viên y tế tin rằng các chương trình giám sát hiện có không hữu ích trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động của họ. Toode và các cộng sự (19), nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện vào năm 2015. Những người tham gia (điều dưỡng, kỹ thuật viên vật lý trị liệu, kỹ thuật viên X quang và phòng thí nghiệm, nhân viên phòng mổ và dược) là 300 nhân viên được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng từ hai bệnh viện đa khoa và giảng dạy.
Công cụ thu thập dữ liệu là một bảng câu hỏi bao gồm 42 câu hỏi trong 7 lĩnh vực của các yếu tố thúc đẩy. Kết quả chỉ ra rằng các mối quan hệ trong công việc (điểm trung bình là 3,95) là yếu tố quyết định chính 8 đối với động lực làm việc của nhân viên tuyến đầu.