CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Động cơ lao động Ghi nhận của từ điển tiếng Việt (1996) thì động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người suy nghĩ và hành động [5]. Động cơ lao động được gắn liền với các cấp bậc về mục tiêu [6]: - Thu nhập: là mục tiêu quan trọng nhất vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu để đảm bảo sự tồn tại và phát triển.
- Phát triển bản thân: là mục tiêu hoàn thiện và phát triển bản thân con người thông qua hoạt động xã hội. - Khẳng định giá trị: Khi đạt được 02 mục tiêu ban đầu thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định giá trị của bản thân trong xã hội. Do đó, phải xác định được nhu cầu của người lao động ở các mức độ cụ thể để từ đó có thể đưa ra những phương án đáp ứng một cách phù hợp nhất. Động lực lao động Theo tác giả Frederick Herzberg (2008) thì động lực là sự khao khát, sự thôi thúc của bản thân mỗi người để hướng đến các mục tiêu mong đợi [2].
Theo Nguyễn Vân 5 Ðiềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì động lực làm việc là sự khao khát, nỗ lực của người lao động để hướng tới một mục tiêu [4]. Dấu hiệu nhận biết của động lực là sự nỗ lực, sự chuyên tâm, mức độ tập trung trong quá trình làm việc. Những yếu tố thúc đẩy động lực được chia thành nhóm cơ bản [7]: - Những yếu tố thuộc về con người, bao gồm: Lợi ích của con người; Mục tiêu cá nhân; Thái độ của cá nhân; Năng lực (khả năng) của cá nhân; Kinh nghiệm (thâm niên) công tác. - Các yếu tố thuộc môi trường tổ chức, bao gồm: Văn hoá Doanh nghiệp; Các chính sách về nhân sự; mô hình tổ chức doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo và các yếu tố bên ngoài về chính sách, pháp luật, xã hội.
- Các yếu tố thuộc về nội dung tính chất công việc, bao gồm: Tính ổn định và tính tự chủ của công việc; Ý thức nhiệm vụ, trách nhiệm; Tính hấp dẫn và tính phức tạp của công việc. Tựu chung lại, động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện cụ thể nhằm tạo ra kết quả tối ưu nhất, bản chất của động lực là những kích thích giúp con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó. Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là việc vận dụng các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc, đem lại hiệu quả cao và hài lòng hơn với công việc [7]. 6 Tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ giúp cho người lao động làm việc tự giác, tích cực, phát huy tính sáng tạo giúp đạt mục tiêu của tổ chức.
Nó đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu và gia tăng sự thỏa mãn trong công việc của người lao động, tăng độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp hơn. Theo học thuyết của Herzberg thì có 02 nhóm yếu tố ảnh hưởng [2]: - Nhóm yếu tố thúc đẩy: là các yếu tố thuộc về tính chất công việc có thể kể đến như: thành tích cá nhân, sự thừa nhận, sự thăng tiến. - Nhóm yếu tố duy trì: là các yếu tố thuộc về môi trường làm việc có thể kể đến như: lương thưởng, các chế độ phúc lợi, sự an toàn trong công việc. Hai nhóm yếu tố trên có thể kết hợp [2]: - Hài lòng cao + Ðộng lực cao: Tình huống thể hiện sự lý tưởng và đảm bảo duy trì hiệu quả trong công việc.
- Hài lòng cao + Ðộng lực thấp: Tình huống công việc được xem như là sự đánh đổi để nhận được tiền lương. - Hài lòng thấp + Ðộng lực cao - Hài lòng thấp + Ðộng lực thấp Do đó, tạo động lực lao động là sự vận dụng một cách có hệ thống các chính sách, phương thức quản lý tác động đến người lao động giúp họ có động lực trong công việc, tạo niềm tin và sự gắn bó lâu dài với tổ chức. Ðộng lực là sự kết hợp đồng thời các yếu tố xuất phát từ bản thân người lao động và các yếu tố thuộc về môi trường sống và làm việc. Vai trò và các công cụ tạo động lực lao động 1.
Vai trò của tạo động lực lao động 7 Động lực lao động là điều cần thiết trong môi trường hoạt động của tổ chức, có vai trò rất quan trọng trong việc mang lại lợi ích cho người lao động, cho tổ chức và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội [4]. Đối với người lao động: - Khi người lao động nhận thấy được sự đóng góp của bản thân được ghi nhận, họ sẽ có thái độ và suy nghĩ tích cực với công việc của mình. Lúc này, họ sẽ có tinh thần làm việc thoải mái, phát huy được tính sáng tạo và năng suất lao động tăng cao. Họ sẽ không ngừng hoàn thiện bản thân, phấn đấu hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra cũng tăng khả năng gắn kết với đồng nghiệp.
Đối với tổ chức: - Sở hữu được nguồn nhân lực chất lượng cao và trung thành sẽ giúp tổ chức ổn định, phát triển hơn trong hoạt động, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Đối với xã hội: - Với sự phát triển của các tổ chức sẽ gián tiếp góp phần xây dựng xã hội ngày càng phát triển và văn minh. Đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người sẽ trở nên phong phú hơn, từ đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội. Các công cụ tạo động lực lao động Tiền lương: tiền lương đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích vật chất với người lao động [7].
Tiền thưởng: là một trong những hình thức tạo sự thúc đẩy đối với người lao động, nó giúp cho người lao động làm việc tích cực hơn, nhanh chóng hơn, chú tâm hơn với mong muốn sớm hoàn thành công việc với kết quả tốt nhất có thể [7]. 8 Các chính sách phúc lợi: có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần ở mức cơ bản, giúp người lao động yên tâm làm việc và cống hiến. Phúc lợi còn giúp thu hút được đội ngũ nhân sự có chuyên môn tốt, phù hợp với các giá trị văn hóa để tạo sức cạnh tranh cho tổ chức [7]. Các công cụ tâm lý: sự thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả công việc của người lao động [7].
Các công cụ giáo dục - đào tạo: Để phát huy các giá trị để đóng góp cho tổ chức thì người lao động phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn. Bên cạnh đó, các tổ chức cũng cần quan tâm nhiều hơn, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội phát triển năng lực bản thân [7]. Một số lý thuyết về tạo động lực làm việc 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow là một nhà tâm lý học nổi tiếng của Mỹ.
Ông đã xây dựng một học thuyết về nhu cầu của con người theo mô hình kim tự tháp, gồm 5 cấp bậc được sắp xếp theo thứ tự từ thấp lên cao: (i) nhu cầu cơ bản (nhu cầu tự nhiên), (ii) nhu cầu an toàn, (iii) nhu cầu xã hội, (iv) nhu cầu được tôn trọng, và cuối cùng là (v) nhu cầu tự hoàn thiện (tự khẳng định bản thân) [8]. Maslow cho rằng sự thoả mãn ở nhu cầu cấp thấp sẽ là động lực thúc đẩy nhu cầu ở cấp cao hơn [8]. - Nhu cầu cơ bản: đảm bảo cho sự tồn tại như: ăn uống, ngủ nghỉ, mặc, và các nhu cầu cơ bản khác. - Những nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu đảm bảo về sức khỏe, việc làm, gia đình.
9 - Nhu cầu xã hội: được giao lưu tình cảm, chăm sóc, hợp tác, bạn bè, tình yêu ở trong một nhóm cộng đồng. - Nhu cầu được tôn trọng: Là sự tôn trọng người khác và được người khác tôn trọng. - Nhu cầu tự hoàn thiện: đó là sự trưởng thành và mong muốn phát triển bản thân, muốn sáng tạo, và được công nhận. Đây là học thuyết được xem là nền tảng của nhu cầu con người và được ứng dụng rộng rãi trong việc quản trị nhân lực.
Các nhà quản lý dựa vào các nhu cầu này để có những chính sách động viên và thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả hơn, tác động đến sự thỏa mãn để từ đó người lao động gắn kết hơn với tổ chức cũng như giảm tỷ lệ nghỉ việc. Thuyết hai nhân tố của Frederich Herzberg Thuyết hai nhân tố của Herzberg đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và sự thỏa mãn của người lao động với hai nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi con người là nhân tố động viên và nhân tố duy trì [2]. Nhân tố động viên được xem là yếu tố liên quan đến mức độ hài lòng của người lao động như: sự thăng tiến, tính chất công việc, sự công nhận,.Khi người lao động cảm thấy thoả mãn các nhu cầu này thì nó sẽ giúp họ làm việc một cách hăng say và tích cực hơn. Và ngược lại nếu các nhu cầu này chưa được thoả mãn, người lao động có xu hướng không bất mãn nhưng mang tâm lý không hài lòng.
Nhân tố duy trì được xem là yếu tố liên quan đến tâm lý không hài lòng như: Điều kiện làm việc, chính sách chế độ, lương thưởng, các mối quan hệ,…Các yếu tố này có khả năng làm giảm động cơ làm việc nếu như không được thỏa mãn. Ngược lại, trong trường hợp được thỏa mãn thì động cơ làm việc cũng không tăng lên nhiều, nhân viên có xu hướng không bất mãn nhưng không có nghĩa là thỏa mãn. Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Học thuyết của Vroom lý giải hành vi và động cơ làm việc của con người phụ thuộc vào ba yếu tố [9]: Sự động viên = Hấp dẫn x Mong đợi x Phương tiện Như vậy, để cho người lao động có động lực làm việc và hướng đến mục tiêu chung của tổ chức thì người lãnh đạo phải định hướng cho người lao động rằng nỗ lực phấn đấu trong công việc của họ sẽ mang lại những phần thưởng tương xứng như mong đợi. Thuyết 4 động cơ của Lawrence & Nohria Học thuyết này chỉ ra các ham muốn trong con người nhưng nó không chỉ ra cách thức con người dùng để thỏa mãn các ham muốn đó [10].