CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là một lĩnh vực rất rộng, ngoài lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất ra thì trong tổng sản phẩm quốc dân sự đóng góp của khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Trong xu thế hiện nay, khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và càng được nhận thức rõ hơn. Dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý.
Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau. - Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể. Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. - Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, như: vận chuyển, sửa chữa và bảo dưỡng các thiết bị máy móc hay công trình.
Cơ cấu các ngành dịch vụ hết sức phức tạp. Ở nhiều nước, ngành dịch vụ được chia thành 3 nhóm: - Các dịch vụ kinh doanh: gồm vận tải, thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, các dịch vụ nghề nghiệp. - Các dịch vụ tiêu dùng: gồm các hoạt động bán buôn, bán lẻ, du lịch, các dịch vụ cá nhân (như y tế, giáo dục, thể dục thể thao). - Các dịch vụ công: gồm các dịch vụ hành chính công, các hoạt động đoàn thể.
Khái niệm chất lượng dịch vụ Hiện nay cứu trong khi ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển thì chất lượng dịch vụ cần phải được chú trọng và đầu tư nghiên cứu. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ là phạm trù rất rộng trong việc định nghĩa, xây dựng mô hình và công cụ đo lường do tất cả các loại hình dịch 5 vụ đều có đặc điểm giống nhau là vô hình và được cảm nhận đồng thời với tiêu dùng của khách hàng. Tuy nhiên khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể không đề cập đến đóng góp rất lớn của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988, 1991). Theo Parasuraman và cộng sự (1988) đã định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ” [34].
Mô hình chất lượng dịch vụ và công cụ đo lường chất lượng dịch vụ 1. Mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman và cộng sự (1985) là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ. Thành công của nghiên cứu đã tạo bước đột phá giúp các nhà kinh doanh có được kết quả chất lượng dịch vụ của họ thông qua việc nghiên cứu đánh giá của khách hàng. Mô hình chất lượng dịch vụ mà Parasuraman và cộng sự lúc đầu nghiên cứu cho thấy rằng khách hàng khi đánh giá chất lượng dịch vụ đều dựa trên những tiêu chuẩn chung được hình thành bởi 10 thành phần đó là: độ tin cậy, sự đáp ứng, năng lực phục vụ, tiếp cận, lịch sự, thông tin, tín nhiệm, an toàn, hiểu biết khách hàng, yếu tố hữu hình.
6 5 khía cạnh mới 10 khía cạnh gốc Hữu Tin cậy Đáp ứng Đảm bảo Đồng hình cảm Hữu hình Tin cậy Đáp ứng Lịch sự Tín nhiệm Năng lực phục vụ An toàn Tiếp cận Thông tin Hiểu biết khách hàng Hình 1: Mối quan hệ giữa mô hình gốc (1985) và mô hình hiệu chỉnh (1988) Tuy mô hình 10 thành phần chất lượng dịch vụ nêu trên thể hiện được tính bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ nhưng lại phức tạp trong việc đo lường và phân tích chất lượng dịch vụ nên Parasuraman và cộng sự (1988, 1991) đã hiệu chỉnh, kết hợp các biến có tính tương quan lại với nhau và chất lượng dịch vụ còn 5 thành phần cơ bản: - Yếu tố hữu hình: thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. - Độ tin cậy: nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và những mong muốn của khách hàng về một dịch vụ được hoàn thành đúng thời hạn, không xảy ra sai sót ngay từ lần đầu tiên - Khả năng đáp ứng: nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng 7 Thông tin từ các Nhu cầu cá nhân Trải nghiệm trước nguồn khác nhau đây Dịch vụ mong đợi Khoảng cách 5 Khách hàng Dịch vụ tiếp nhận Nhà cung cấp Thông tin đến (Lãnh đạo Dịch vụ chuyển giao Khoảng cách 4 khách hàng bệnh viện, bác sỹ, điều Khoảng cách 3 dưỡng.) Chuyển đổi cảm Khoảng cách 1 nhận thành yêu cầu chất lượng Khoảng cách 2 Nhận thức của nhà quản lý về kỳ vọng của khách hàng Hình 2: Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman - Sự đảm bảo: thể hiện qua trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khía cạnh đảm bảo bao gồm một số đặc trưng như: năng lực cung cấp dịch vụ, thái độ lịch sự, niềm nở, sự tôn trọng dành cho khách hàng, hiệu quả trong giao tiếp với khách hàng và tạo sự tin tưởng với khách hàng. - Sự đồng cảm: là mức độ quan tâm, chăm sóc dành cho người bệnh.
Sự đồng cảm bao gồm một số yếu tố như: khả năng tiếp cận, sự nhạy cảm và những hiểu biết về nhu cầu của khách hàng [31], [34]. Trên cơ sở mô hình dịch vụ của Gronroos (1984), Parasuraman và cộng sự (1985) tiến hành xây dựng mô hình chất lượng khoảng cách giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp hay nói cách khác nhóm 8 tác giả cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà họ đang sử dụng với cảm nhận thực tế về dịch vụ mà họ hưởng thụ. Mô hình đưa ra 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ: - Khoảng cách 1: là sai biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ về kỳ vọng đó. - Khoảng cách 2: được tạo ra khi nhà cung cấp gặp khó khăn, trở ngại khách quan lẫn chủ quan trong việc xây dựng những tiêu chí chất lượng dịch vụ sao cho phù hợp với những nhận định về kỳ vọng dịch vụ của khách hàng.
- Khoảng cách 3: là sự khác biệt giữa chất lượng cung cấp thực tế với những tiêu chí chất lượng dịch vụ được đưa ra. Khoảng cách này hình thành khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho khách hàng không đúng với tiêu chí đã định. - Khoảng cách 4: là sai biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng nhận được. Thông tin này có thể làm tăng kỳ vọng nhưng có thể làm giảm chất lượng dịch vụ cảm nhận khi khách hàng không nhận được đúng những gì đã cam kết.
- Khoảng cách 5: chính là khoảng cách chất lượng dịch vụ, bằng tổng của 4 khoảng cách trên và khoảng cách này phụ thuộc vào sự biến thiên của 4 khoảng cách đó. Chất lượng dịch vụ được coi là hoàn hảo khi khoảng cách này bằng 0. Công cụ đo lường chất lượng dịch vụ Thang đo được sử dụng phổ biến để đo lường chất lượng dịch vụ là mô hình SERVQUAL - được ghép từ 2 từ SERVICE – Dịch vụ và QUALITY – Chất lượng. Các mô hình SERVQUAL được phát triển bởi Parasuraman và cộng sự, là một trong những mô hình tốt nhất để đánh giá kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của họ về chất lượng của các dịch vụ.
SERVQUAL được dựa trên ý tưởng rằng chất lượng được khách hàng đánh giá một cách chủ quan hay qua kinh nghiệm của họ khi sử dụng dịch vụ. Do đó, các phân tích về chất lượng dịch vụ cho phép các nhà quản lý bệnh viện phân bổ các nguồn lực tài chính để cải thiện hiệu suất trong các lĩnh vực có ảnh hưởng nhiều hơn vào nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ [40]. 9 SERVQUAL được Parasuraman (1985) tiếp tục phát triển, hiệu chỉnh từ mô hình chất lượng dịch vụ khoảng cách, mô hình này ban đầu có 10 thành phần nhưng sau đó Parasuraman và cộng sự (1988, 1991) đã khái quát những yếu tố đó để tạo nên thang đo này gồm 22 biến quan sát sau đó tổng hợp thành 5 thành phần để phản ánh chất lượng dịch vụ [27]. Điểm số để đánh giá chất lượng dịch vụ được tính toán bằng cách so sánh từng cặp câu hỏi về cảm nhận thực tế và kỳ vọng.
Điểm số này tương ứng với khác biệt 5 (Hình 2). Điểm số cho 4 khác biệt còn lại có thể tính theo cách tương tự [37]. Điểm sau khi tính hiệu số giữa cảm nhận thực tế và kỳ vọng là số dương chứng tỏ cơ sở có chất lượng dịch vụ tốt và ngược lại. Điểm số bằng 0 chứng tỏ chất dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Trong công cụ đo lường mới đây do Parasuraman (1991) đề xuất thì có thêm 3 phần đo lường tầm quan trọng của mối quan hệ giữa 5 khía cạnh đối với khách hàng [54]. Điểm số của 3 phần này sau đó được sử dụng như hệ số cho tổng điểm chất lượng dịch vụ của mỗi khía cạnh, mục đích của việc này giúp cho điểm số chung về chất lượng dịch vụ chính xác hơn [60]. Số liệu thu được từ công cụ SERVQUAL có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau [71]: - Để xác định điểm số trung bình cho các khác biệt (5 khác biệt) của mỗi dịch vụ được cung cấp. - Đánh giá chất lượng dịch vụ thông qua từng khía cạnh trong thang đo SERVQUAL.
- Để lưu giữ lại những sự kỳ vọng và cảm nhận thực tế về dịch vụ qua các giai đoạn khác nhau. - Để so sánh chất lượng dịch vụ giữa các cơ sở khác nhau. - Để so sánh chất lượng dịch vụ trong nội bộ (so sánh chất lượng dịch vụ giữa các bộ phận, phòng ban khác nhau của cùng 1 cơ sở). Hiện nay thang đo SERVQUAL vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: bệnh viện, khách sạn, du lịch, kiến trúc, ngân hàng, chăm sóc sức khoẻ.
Chất lượng dịch vụ y tế 10 Chất lượng trong dịch vụ y tế đòi hỏi hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật (chất lượng kết quả) và chất lượng chức năng (chất lượng quy trình).