ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc điều dưỡng là một hoạt động nghề nghiệp, đòi hỏi điều dưỡng viên (ĐDV) cần phải làm việc chủ động, sáng tạo, phải có cả kiến thức lẫn kỹ năng để là người cộng sự không thể thiếu được của bác sĩ. Nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV là chủ động trong chăm sóc nhằm đáp ứng các nhu cầu của người bệnh và phối hợp với các nhân viên y tế khác để bảo đảm người bệnh nhận được dịch vụ chăm sóc với chất lượng cao nhất, an toàn nhất và tiện nghi nhất. Trong chiến lược phát triển công tác điều dưỡng, hộ sinh năm 2002-2008, Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định: dịch vụ do điều dưỡng viên, hộ sinh viên cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế. Kinh tế ngày càng phát triển, nhận thức và thái độ về sức khỏe của người dân thay đổi, đòi hỏi phải tăng cường chuẩn mực chăm sóc của ĐDV [11].
Những năm gần đây, trình độ của ĐDV được nâng cao nên chất lượng chăm sóc người bệnh ngày càng tăng. Tuy nhiên, công tác điều dưỡng hiện nay còn một số bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh. Tình trạng quá tải, thiếu nhân lực nên ở một số nơi điều dưỡng đã giao phó những công việc chăm sóc cơ bản như vệ sinh cá nhân, hỗ trợ ăn uống và vận động đi lại cho người nhà người bệnh và thậm chí là cả những nhiệm vụ chuyên môn như thay chai truyền dịch, bóp bóng oxy, cho người bệnh ăn qua sonde dạ dày [43]. Thông tư số 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, được ban hành ngày 26/01/2011 với nguyên tắc: Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn.
Các hoạt động chăm sóc của ĐDV phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh [9]. Thông tư cũng đã quy định cụ thể về 12 nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của ĐDV. Điều này sẽ từng bước cải thiện công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh. Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hạng 2.
Năm 2013, số giường bê ̣nh kế hoạch là 1000 giường bệnh, số giường bê ̣nh thực kê là 1.094, với 06 phòng chức năng, 18 khoa lâm sàng và 09 khoa cận lâm 2 sàng. Số lươ ̣t khám chữa bệnh là 536.717 lượt; số lươ ̣t người bê ̣nh đươ ̣c điề u trị nội trú là 46.288, công suất sử dụng giường bệnh đạt 90,91% [14]. Bê ̣nh viê ̣n bắ t đầ u áp dụng mô hình CSNB toàn d iê ̣n từ năm 2003, chấ t lươ ̣ng CSNB ngày càng đươ ̣c nâng lên. Tuy nhiên, do tình trạng thiếu nhân lực bác sĩ và sự quá tải cục bộ tại một số khoa lâm sàng đã làm tăng áp lực công viê ̣c cho đô ̣i ngũ điề u dưỡng [16].
Từ khi Thông tư 07/2011/TT-BYT đươ ̣c ban hành , bê ̣nh viê ̣n đã nhanh chóng triển khai thực hiện, xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát; cân đối nhân lực điều dưỡng, hộ sinh về số lượng, trình độ và phân công hợp lý; tăng cường các phương tiện phục vụ nhằm đáp ứng cơ bản nhu cầu CSNB. Ngày 03 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Y tế cũng vừa ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện, quan điểm chủ đạo để xây dựng bộ tiêu chí “Lấy nguời bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị”[12]. Do đó, bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu cần có kế hoạch triển khai đánh giá chất lượng hiện tại của bệnh viện, trong đó có hoạt động CSNB. Vậy, thực trạng hoạt động CSNB tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? việc thực hiện 12 nhiệm vụ CSNB của ĐDV đạt mức độ nào? Những yếu tố nào liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV? Để tìm hiểu rõ vấn đề này và có cơ sở đánh giá chất lượng bệnh viện trong lĩnh vực CSNB, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng việc thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014. Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về điều dƣỡng và công tác chăm sóc ngƣời bệnh 1. Lịch sử ngành điều dƣỡng Hy lạp - năm 60, Bà Phoebe đã đến từng gia đình có người bệnh để chăm sóc và được ngưỡng mộ suy tôn là người nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên của thế giới. Đến giữa thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19, bà Florence Nightingale (1820 - 1910) một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng. Ngày nay , ngành điều dưỡng của th ế giới đã được xếp là một ngành riêng biệt , ngang hàng với các ngàn h nghề khác và c ó nhiều trường đào tạo điề u dưỡng với nhiề u trình đô ̣ khác nhau [7], [8], [44].
Cũng như thế giới, tại Việt Nam, sự du nhập của nền Y học phương tây bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, các lớp điều dưỡng sơ học được mở nhằm đáp ứng nhu cầu cho kháng chiến. Năm 1975, Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong cả nước. Đến nay, nghề điều dưỡng đã có hệ thống tổ chức, đào tạo nghề ở các bậc từ sơ học đến đại học và sau đại học; có luật hành nghề và đạo đức hành nghề [8], [44]. Các định nghĩa về điều dƣỡng Năm 1965, Hội điều dưỡng Mỹ đưa ra định nghĩa “Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc phục hồi và nâng cao sức khỏe” [5].
Tại Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Khoa học xã hội 1999 định nghĩa “Y tá là người có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc người bệnh theo y lệnh bác sĩ”. Định nghĩa này chưa phản ánh đầy đủ vị trí và vai trò của người điều dưỡng cũng như nghề điều dưỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hiện nay [5]. Ngày nay, người điều dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng với các bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và các thành phần trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, người làm điều dưỡng gọi là điều dưỡng viên [21]. Điều dưỡng viên (bao gồm cả nam và nữ) là những người có nền tảng khoa 5 học cơ bản về điều dưỡng, đáp ứng các tiêu chuẩn được kê toa tùy theo sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng [21].
Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV, ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội vụ, quy định chức trách của điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [2]. Khái niệm về công tác chăm sóc ngƣời bệnh Chăm sóc điều dưỡng là những chăm sóc chuyên môn của người điều dưỡng đối với người bệnh từ khi vào viện đến lúc ra viện. Nội dung chính bao gồm: chăm sóc thể chất, tinh thần, dinh dưỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo dõi, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe cho người bệnh. Chăm sóc điều dưỡng bắt đầu từ lúc người bệnh đến khám, vào viện và cho đến khi người bệnh ra viện hoặc tử vong [24].
Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trơ ,̣ đáp ứng các nhu cầ u cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp , tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uố ng, bài tiế t, tư thế, vâ ̣n đô ̣ng, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [9]. Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện là đảm bảo ―Lấy người bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị‖ dựa trên đánh giá các nhu cầu của người bệnh và hướng tới người bê ̣nh để phục vụ [9], [12]. Chức năng của ngƣời điều dƣỡng Chức năng của người điều dưỡng theo Tổ chức Y tế thế giới, được thể hiện ở ba chức năng chính (1) chức năng phụ thuộc: là các hoạt động thực hiện theo y lệnh của bác sĩ; (2) chức năng phối hợp: là phối hợp với các thành viên trong nhóm chăm sóc, nhân viên chuyên ngành khác, phối hợp với người bệnh để hoàn thành kế hoạch CSNB đạt hiệu quả cao; (3) chức năng độc lập: là các hoạt động trong phạm vi kiến thức được đào tạo để thực hành, chẩn đoán điều dưỡng và xử trí không cần bác sĩ ra y lệnh như đáp ứng 14 nhu cầu cơ bản của người bệnh [46]. Vai trò và nhiệm vụ của ngƣời điều dƣỡng Vai trò người chăm sóc là thuộc tính cơ bản của người điều dưỡng, đây là nền tảng của mọi can thiệp điều dưỡng.
Jen Watson cho rằng ―Thực hành chăm sóc là 6 hạt nhân của nghề điều dưỡng‖ [6]. Chăm sóc thể hiện ở việc sử dụng quy trình kỹ thuật để thực hiện chăm sóc người bệnh; Theo dõi diễn tiến bệnh và báo ngay với bác sĩ những dấu hiệu bất thường; thực hiện các y lệnh điều trị, chăm sóc; thực hiện các kỹ thuật thực hành điều dưỡng theo đúng quy trình, và đảm bảo vô khuẩn, hạn chế nhiễm trùng bệnh viện [46].