ĐẶT VẤN ĐỀ Nhân lực y tế (NLYT) đƣợc coi là một phần rất quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lƣợng dịch vụ y tế. Việc quản lý và điều hành tốt nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế mà còn tăng cƣờng công bằng trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực [3]. Động lực làm việc của NVYT đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tăng hiệu quả thực hiện công việc của tổ chức. Động lực làm việc là yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định đến sự thành công, vì chỉ khi mỗi cá nhân trong tổ chức có động lực, có sự tự nguyện sẽ tạo ra động cơ khuyến khích ngƣời lao động làm việc, thúc đẩy sự sáng tạo, tăng hiệu quả thực hiện công việc cho bản thân và cho tổ chức.
Việc tăng cƣờng tạo động lực làm việc cho nhân viên trong đó có bác sĩ càng cần thiết hơn khi trong thời gian sắp tới các bệnh viện sẽ đƣợc giao quyền tự chủ cả về tài chính và nhân lực. Năm 2008, Mischa Willis - Shattuck và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại một số quốc gia đang phát triển ở Châu Phi và Châu Á trong đó có Việt Nam đã chỉ ra 7 yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của NVYT là: tài chính, phát triển sự nghiệp, đào tạo liên tục, môi trƣờng làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, yếu tố quản lý, khẳng định bản thân và đƣợc đánh giá cao. Nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố tạo động lực làm việc là khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia cụ thể nhƣng ƣu đãi về tài chính, phát triển sự nghiệp và các vấn đề quản lý là yếu tố cốt lõi. Tuy nhiên, ƣu đãi tài chính một mình không đủ để thúc đẩy nhân viên y tế.
Rõ ràng sự ghi nhận ảnh hƣởng cao tới động lực làm việc của nhân viên y tế, các nguồn lực đầy đủ và cơ sở hạ tầng thích hợp có thể cải thiện đáng kể tinh thần của họ [19]. Năm 2013, nghiên cứu của Nguyễn Đình Toàn về thực trạng nguồn nhân lực và một số yếu tố liên quan đến động lực làm việc của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang, Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thiếu hụt về nhân sự; cơ cấu chuyên môn chƣa phù hợp, tỷ số bác sỹ/chức danh chuyên môn y tế khác (1/2,3) thấp hơn so với quy định; tỷ số dƣợc sỹ/dƣợc sỹ trung học là 1/2,6 cao hơn so với quy định. Kết quả còn cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 2 động lực làm việc chung với 03 yếu tố xã hội và nhân khẩu/nghề nghiệp là tuổi, thời gian công tác; thu nhập chính trong gia đình [16].
Bệnh viện quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện đa khoa hạng II, trực thuộc Ủy ban nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh với quy mô 325 giƣờng bệnh, có chức năng cấp cứu, khám và điều trị cho nhân dân trên địa bàn quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh và các quận lân cận [1]. Trong thời gian qua, dựa trên kết quả kiểm tra chất lƣợng bệnh viện của Sở Y tế cũng nhƣ số lƣợng bệnh nhân đến khám và điều trị tăng lên (năm 2016: 2.500 lƣợt/ngày) cho thấy uy tín của Bệnh viện tăng lên tạo điều kiện thu hút nguồn lực. Để đáp ứng đƣợc nguồn nhân lực đảm bảo cho công tác khám, chữa bệnh đặc biệt là bác sĩ Bệnh viện đã có những chính sách đãi ngộ về tiền lƣơng, phúc lợi,.nhằm thu hút bác sĩ về tham gia công tác nhƣng trong năm 2017 số lƣợng bác sĩ xin nghỉ việc chiếm 12%/tổng số bác sĩ hoặc một số góp ý của ngƣời bệnh đối với bác sĩ về chất lƣợng khám, chữa bệnh (thời gian hỏi bệnh, thăm khám quá ngắn,.) việc này sẽ dẫn đến chất lƣợng phục vụ ngƣời bệnh bị giảm, từ đó sẽ giảm lòng tin của ngƣời bệnh đối với bệnh viện [1]. Để nâng cao chất lƣợng phục vụ ngƣời bệnh, nhân viên y tế nói chung, bác sĩ nói riêng thì cần phải có động lực làm việc.
Vậy, câu hỏi đặt ra là động lực làm việc của bác sĩ đang công tác tại Bệnh viện quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhƣ thế nào? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến động lực làm việc của bác sĩ Bệnh viện quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh? Chính vì những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Động lực làm việc của bác sĩ và một số yếu tố ảnh hƣởng tại Bệnh viện quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018” với hy vọng kết quả nghiên cứu này nhằm giúp cho lãnh đạo bệnh viện có thêm thông tin từ đó đề ra những chính sách, biện pháp khuyến khích, động viên bác sĩ kịp thời vì từ trƣớc đến nay, Bệnh viện chƣa có nghiên cứu về việc động lực làm việc của bác sĩ để có nguồn nhân lực ổn định tạo tiền đề cho sự phát triển của Bệnh viện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả động lực làm việc của bác sĩ tại Bệnh viện quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nhƣ thế nào năm 2018 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của bác sĩ tại Bệnh viện quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 4 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Nhân lực y tế Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đƣa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (nhƣ tình nguyện viên xã hội, những ngƣời chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y…) [26].
Từ định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là nhân lực y tế bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang công tác trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tƣ nhân, các cộng tác viên y tế, lƣơng y, bà đỡ, mụ vƣờn) [3]. Quản lý nguồn nhân lực Theo Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dƣơng (WPRO), quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trƣờng tổ chức thuận lợi và đảm bảo hoàn thành tốt một công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lƣợc nhằm xác định và đạt tối ƣu về số lƣợng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất, chức năng của quản lý nguồn nhân lực gồm: (a) thu hút nguồn nhân lực, (b) đào tạo và phát triển, (c) duy trì nguồn nhân lực gồm 2 chức năng là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong tổ chức[22]. Động lực và động lực làm việc “Động lực là các quá trình thể hiện cƣờng độ, định lƣợng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức” [27]. “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
Động lực cá nhân là kết quả của nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con ngƣời, trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời. Do đó, hành vi có động lực trong tổ chức là 5 kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố: văn hóa tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực, cũng nhƣ việc thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân ngƣời lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính mình; chẳng hạn nhƣ: nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị [11]. Động lực làm việc của nhân viên y tế (NVYT) bị tác động bởi nhiều yếu tố bao gồm giá trị riêng của NVYT, đạo đức nghề nghiệp, sự trả công, môi trƣờng làm việc, sự hỗ trợ của hệ thống y tế,… Kỹ năng và năng lực làm việc của NVYT không đƣợc tận dụng nếu động lực làm việc của NVYT yếu kém, muốn NVYT có động lực làm việc tốt cần phải đề cao giá trị đạo đức của NVYT, trả công thỏa đáng, tạo môi trƣờng làm việc tốt và các việc hỗ trợ cho NVYT, đặc biệt là đảm bảo có đầy đủ các trang thiết bị, thuốc thiết yếu, cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin y tế.
Các phƣơng hƣớng tạo động lực trong lao động Để tạo động lực cho ngƣời lao động nhà quản lý cần hƣớng hoạt động của mình vào ba lĩnh vực then chốt với các phƣơng hƣớng chủ yếu sau đây: 1. Xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc của nhân viên Xác định mục tiêu hoạt động của tổ chức và làm cho ngƣời lao động hiểu rõ mục tiêu đó. Xác định nhiệm vụ cụ thể và các tiêu chuẩn thực hiện cho ngƣời lao động. Ở đây, các bảng mô tả công việc và tiêu chuẩn thực hiện công việc đóng vai trò quan trọng.
Đánh giá thƣờng xuyên và công bằng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của ngƣời lao động, từ đó giúp họ làm việc tốt hơn[11]. Tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ Loại trừ các trở ngại đến quá trình thực hiện công việc của ngƣời lao động. Cung cấp các điều kiện cần thiết cho công việc. Tuyển chọn và bố trí ngƣời phù hợp để thực hiện công việc[11].
Kích thích lao động Sử dụng tiền lƣơng nhƣ một công cụ cơ bản để kích thích vật chất đối với ngƣời lao động. Tiền lƣơng là phần chủ yếu trong thu nhập và biểu hiện rõ ràng nhất lợi ích kinh tế của ngƣời lao động. Do đó, nó phải đƣợc sử dụng nhƣ là một đòn bẩy kinh tế 6 mạnh mẽ để kích thích ngƣời lao động. Tiền lƣơng cũng phải đƣợc trả thỏa đáng so với sự đóng góp của ngƣời lao động và phải công bằng[11].