Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu của tác giả từ lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và bố cục của Luận văn. Chương 2 tiếp theo, tác giả sẽ trình bày nội dung Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Động lực làm việc Theo Bùi Anh Tuấn (2009), Động lực làm việc của người lao động còn có thể được hiểu là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động.
Nó còn được hiểu là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của người lao động (Higgins, 1994). Herzberg (1959) cho rằng: Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động còn được xem là một quá trình diễn biến tâm lý trong đó định hướng cho hành vi của cá nhân bởi các mục tiêu cụ thể (Kraitner, 1995).
Theo đó, bản chất của động lực làm việc: Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức, điều này có nghĩa mọi lao động không có chung động lực làm việc. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể; Động lực làm việc không phụ thuộc hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc và các yếu tố khách quan trong công việc. Động lực làm việc mang tính tự nguyện, phụ thuộc vào bản thân người lao động là chính, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họcảm thấy không có sức ép hay áp lực nào trong công việc; Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên, động lực lao động không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động mà chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động phụ thuộc 6 vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất, vào quy trình vận hành, tác nghiệp của một đơn vị kinh doanh đặc thù.2 Một số học thuyết tạo động lực trong công việc 2.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu mong muốn được thỏa mãn và được sắp xếp theo thứ tự nhất định.
Theo ông con người có năm nhu cầu cần được thỏa mãn và được sắp xếp theo thứ tự thỏa mãn từng nhu cầu. Học thuyết của Maslow cho rằng khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu trên được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng hơn. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ di theo thứ bậc như trên và mặc dù không có nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn nhưng một nhu cầu đã được thỏa mãn thì không còn tạo ra động lực được nữa. Do vậy Maslow cho rằng để tạo ra được động lực cho nhân viên người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang nằm trong thứ bậc nào của nhu cầu.1 Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) 7 2.2 Thuyết hai yếu tố Herzberg đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn trong công việc và tạo động lực, ông chia các yếu tố thành 2 nhóm như sau.
Nhóm 1 bao gồm các yếu tố then chốt để tạo động lực và sự thỏa mãn trong công việc như sau: Sự thành đạt, Sự thừa nhận thành tích, Bản chất bên trong công việc, Trách nhiệm lao động, Sự thăng tiến. Đó là các yếu tố thuộc về công việc và về nhu cầu bản thân của người lao động. Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ tạo được động lưc cho người lao động. Nhóm 2 bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức: Các chế độ và chính sách quản trị của công ty, Sự giám sát công việc, Tiền lương, Các mối quan hệ con người trong tổ chức, Các điều kiện làm việc.2 Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg (1959) Học thuyết này đã chỉ ra hàng loạt những yếu tố tác động tới tạo động lực và sự thỏa mãn nhu cầu của người lao động, đồng thời cũng gây được ảnh hưởng cơ bản tới thiết kế và thiết kế lại ở nhiều công ty.3 Mô hình các đặc điểm của công việc Mô hình các đặc điểm công việc JCM (Hackman và Oldham, 1974) xác định năm đặc điểm cơ bản của công việc, các mối tương quan giữa chúng và tác động của chúng đối với năng suất, động cơ cũng như động lực làm việc của nhân viên.
8 Theo mô hình JCM, bất cứ công việc nào cũng có thể được mô tả theo năm đặc điểm chủ yếu, được định nghĩa như sau: - Tính đa kỹ năng: là mức độ theo đó một công việc đòi hỏi nhiều hoạt động khác nhau để một nhân viên có thể sử dụng nhiều kỹ năng và tài nghệ của mình. - Tính đồng nhất của nhiệm vụ: mức độ mà theo đó một công việc đòi hỏi sự hoàn thành toàn bộ và từng phần công việc giống nhau. - Ý nghĩa của nhiệm vụ: mức độ mà theo đó một công việc có tác động đáng kể đến cuộc sống hay công việc của người khác. - Mức độ tự chủ: mức độ mà theo đó công việc đêm lại sự tự do, độc lập và tự chủ đáng kể của một cá nhân trong việc lên kế hoạch cho công việc và xác định các quy trình cần thiết để tiến hành công việc.
- Thông tin phản hồi: mức độ mà theo đó kết quả công việc đòi hỏi phải tiến hành các hoạt động bởi một công việc dẫn đến việc đảm nhận được những thông tin trực tiếp và rõ ràng của một cá nhân về hiểu quả làm việc của người đó. Mô hình này có ý nghĩa ứng dụng đối với đề tài nghiên cứu này, các biến đặc điểm công việc sẽ được đưa vào đánh giá xem nhân tố bản chất công việc ảnh hưởng đến mức độ thỏa mãn công việc nói chung của nhân viên như thế nào.4 Thuyết công bằng của Adams Lý luận về sự công bằng của Stacy Adams (1963) chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ so sánh giữa sự cống hiến của cá nhân đối với tổ chức và sự báo đáp mà cá nhân nhận được từ tổ chức. Adams cho rằng để thành viên của tổ chức giữ được nhiệt tình làm việc tương đối cao thì sự báo đáp trong tổ chức phải công bằng, hợp lí, làm cho các thành viên của tổ chức cảm thấy sự phân phối của tổ chức là công bằng. Người lao động trong tổ chức muốn được đối xử một cách công bằng, họ có xu hướng so sánh những đóng góp và phần thưởng của họ với những người khác.
Khi so sánh đánh giá có thể có ba trường hợp xảy ra: Thứ nhất, Nếu người lao động cho rằng họ được đối xử không tốt, phần thưởng là không xứng đáng với công sức họ đã bỏ ra thì họ sẽ bất mãn và từ đó họ sẽ làm việc không hết khả năng và thậm chí họ sẽ bỏ việc. 9 Thứ hai, Nếu người lao động tin rằng họ được đối xử đúng, phần thưởng và đãi ngộ là tương xứng với công sức họ đã bỏ ra thì họ sẽ duy trì mức năng suất như cũ. Thứ ba, Nếu người lao động nhận thức rằng phần thưởng và đãi ngộ là cao hơn so với điều họ mong muốn thì họ sẽ làm việc tích cực hơn, chăm chỉ hơn. Song trong trường hợp này, họ có xu hướng giảm giá trị của phần thưởng.5 Mô hình chỉ số mô tả công việc JDI của Smith và cộng sự (1969) Mô hình JDI (job descriptive index) được Smith và cộng sự (1969) phát triển từ đại học Cornell.
Mô hình JDI đánh giá sự hài lòng công việc của người lao động dựa trên 05 biến nghiên cứu là: Bản chất công việc, Cơ hội đào tạo và thăng tiến, Lãnh đạo, Đồng nghiệp và Thu nhập. Mô hình JDI được xem là sở hữu các nội dung tốt, các khái niệm có cơ sở và đáng tin cậy (Trần Kim Dung, 2005). JDI cũng được xem là công cụ nên lựa chọn để đánh giá mức độ hài lòng công việc (Price, 1997). Mặc dù được đánh giá cao cả về lý luận lẫn thực tiễn nhưng JDI cũng có những điểm yếu của nó.
Đầu tiên là việc sử dụng bộ câu hỏi với 72 mục hỏi bị xem là quá dài gây khó khăn cho việc điều tra lấy dữ liệu. Thứ hai dạng câu hỏi trả lời trong mô hình JDI nguyên thủy là dạng câu trả lời Có – Không không đánh giá được nhiều mức độ hài lòng khác nhau của người lao động. Thứ ba là trong JDI không có câu hỏi đánh giá sự hài lòng tổng thể của người lao động (Spector, 1997). Ngày nay các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình JDI điều chỉnh với các mục hỏi được thiết kế ở dạng thang đo Likert giúp ích cho việc đánh giá được nhiều mức độ cảm nhận của người lao động hơn và số câu hỏi cũng được điều chỉnh còn ít hơn so với JDI nguyên thủy.
Ở Việt Nam, Trần Kim Dung (2005) đo lường mức độ thỏa mãn đối với công việc trong điều kiện của Việt Nam đã đưa thêm hai nhân tố là phúc lợi công ty và điều kiện làm việc để phù hợp với tình hình Việt Nam.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan Nghiên cứu của Mohammad Kamal Hossain và cộng sự (2012) được thực hiện với mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá mức độ tạo động lực của nhân viên làm việc tại KFC UK ltd. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bản thân 10 công việc và môi trường, Quan hệ với người giám sát, Bản thân và các vấn đề của công ty, Sự công nhận, Sự phát triển và tăng trưởng, Lương và lợi ích là 6 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến động lực của nhân viên làm việc tại KFC UK ltd.