Lời mở đầu Trình bày lý do thực hiện đề tài, mục đích, đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, còn ý nghĩa khoa học, thực tiễn, bố cục luận văn cũng được trình bày trong phần này. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Giới thiệu các lý thuyết về động lực làm việc của người lao động. Trên cơ sở đó, đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết áp dụng đối với người lao động đang công tác trên tại Công ty Quản lý bay Miền Nam.
Phương pháp nghiên cứu Giới thiệu trình tự nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được ứng dụng. Hơn nữa, đề tài trình bày cách thức lấy mẫu, quy trình xử lý dữ liệu nghiên cứu, đánh giá mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Giới thiệu mẫu nghiên cứu chính thức, quy trình phân tích dữ liệu gồm có: đánh gia yếu tố bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy, đánh giá mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu. Kết luận và hàm ý chính sách Kết luận lại kết quả nghiên cứu đạt được.
Từ đó, đề tài tiến hành đưa ra các hàm ý chính sách giúp cấp có thẩm quyền có phương hướng cải thiện động lực làm việc của người lao động. Ngoài ra, nghiên cứu đưa ra một số hạn chế 16 và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm nghiên cứu 2.
Khái niệm về người lao động: Người lao động là các cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, có thể là làm việc bằng sức lao động hay là lao động trí óc, thông qua hành vi lao động trên thực tế mà được trả lương, làm việc dưới sự quản lý của người sử dụng lao động. Theo quy định của Luật Lao động thì người lao động phải là người từ đủ 15 tuổi trở lên, phải làm việc theo nội dung được quy định trong hợp đồng lao động đã ký kết với bên chủ thể sử dụng lao động. Người lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động theo ý chí của chính mình không bị tác động hay phụ thuộc bởi bất cứ chủ thể nào. Tuy nhiên đối với người lao động có độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi thì khi giao kết hợp đồng lao động bắt buộc phải có sự đồng ý từ phía người đại đại theo pháp luật như cha, mẹ hoặc cá nhân khác do pháp luật chỉ định.
Khái niệm về Động lực và Động lực làm việc: Động lực là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức. Tạo động lực cho nhân viên là một trong những chính sách của nhà quản lý nhằm tăng cường hiệu quả quản lý công việc giữa các nhân viên trong tổ chức (Shadare và cộng sự, 2009). Một nhân viên có động lực sẽ nỗ lực hết sức mình để đạt được những mục tiêu của cá nhân và của tổ chức. Cơ sở vật chất của tổ chức sẽ trở nên lãng phí nếu nó thiếu những người có động lực để sử dụng những phương tiện này một cách hiệu quả.
Động lực và hiệu suất của nhân viên là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển doanh nghiệp. Chủ sở hữu, người quản lý và người giám sát biết động lực tích cực dẫn đến hiệu suất tốt 18 hơn và năng suất cao hơn nhưng có thể dựa vào các công cụ sai sẽ tạo ra sự không hài lòng giữa nhân viên và dẫn đến hiệu suất kém. Động lực làm tăng mức độ sẵn sàng làm việc của người lao động, do đó làm tăng hiệu quả của tổ chức. Mục tiêu của tổ chức là phát triển những nhân viên có động lưc và hỗ trợ tinh thần của họ liên quan đến công việc tương ứng để đạt được hiệu suất tốt hơn (Shadare & cộng sự, 2009).
Nhiều học giả đã cố gắng xác định động lực và đây là một lĩnh vực được nghiên cứu kỹ lưỡng có nguồn gốc từ nhiều ngành học như tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, khoa học chính trị và kinh tế. Động lực thường được định nghĩa là các lực lượng tâm lý xác định hướng nỗ lực của một người, cũng như sự kiên trì của một người khi đối mặt với những trở ngại. Bratton và cộng sự, (2007) định nghĩa nó là một quá trình ra quyết định có nhận thức ảnh hưởng đến các hành vi có mục tiêu. Động lực làm việc cũng có thể được định nghĩa là sự bền bỉ và hướng hành vi đến mục tiêu.
Động lực làm việc cũng có thể được định nghĩa là sự bền bỉ. - Động lực làm việc: là những yếu tố bên trong kích thích nhân viên làm việc và cho phép họ tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Động lực làm việc gắn liền với lợi ích của nhân viên và ngược lại lợi ích tạo ra động lực cho nhân viên. Trên thực tế động lực được tạo phụ thuộc vào cơ chế chính sách cụ thể, như là một công cụ cho sự phát triển của xã hội.
Động lực “là năng lượng làm cho bộ máy chuyển động; hay là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” (Từ điển tiếng Việt, 1996). Động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân (Maier và Lawler, 1973), họ đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng * Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh * Đào tạo * Các nguồn lực 19 Động lực = Khao khát * Tự nguyện Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn (Higgins, 1994). Như vậy, có thể hiểu động lực làm việc như sau: + Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân nhân viên, khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. + Động lực làm việc là sẽ đem lại năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi.
Các lý thuyết liên quan đến động lực làm việc 2. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1942) Lý thuyết về nhu cầu của Maslow là một trong những lý thuyết được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu về động cơ của người lao động. Lý thuyết Maslow đã chỉ ra rằng người quản lý cần có những giải pháp thúc đẩy sự thoả mãn nhu cầu cá nhân, khi đó sẽ tạo ra được động lực cho người lao động. Lý thuyết nhấn mạnh rằng trong mỗi nhân sự bao giờ cũng tồn tại 5 nhóm nhu cầu: (1) Nhu cầu sinh lý.
(2) Nhu cầu an toàn. (3) Nhu cầu xã hội. (4) Nhu cầu tôn trọng. (5) Nhu cầu tự thể hiện.
Theo lý thuyết Maslow nhu cầu con người xuất hiện theo từ thấp đến cao. Ở nấc thang đầu là các nhu cầu cơ bản, tiếp đến là các nhu cầu về an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và khẳng định mình. Lý thuyết Maslow cho rằng thoả mãn nhu cầu người lao động ở cấp thấp sẽ dễ hơn so với việc thoả mãn nhu cầu ở cấp cao. Lý do là các nhu cầu cấp 20 thấp có giới hạn và được đáp ứng từ bên ngoài.
Maslow cũng cho rằng, các nhu cầu ở cấp thấp nhất đòi hỏi được đáp ứng và nó là động lực để thúc đẩy con người hành động (yếu tố động viên). Khi mà nhu cầu cá nhân được đáp ứng, khi đó nó không còn là yếu tố động viên nữa và các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện và cần được thỏa mãn. Tóm lại, nhu cầu của con người trở thành là động lực quan trọng và việc ảnh hưởng vào nhu cầu của họ sẽ thay đổi được hành vi. Thuyết nhu cầu của Maslow đã có ý nghĩa quan trọng cho các nhà quản lý.
Khi họ muốn động viên nhân sự, điều quan trọng là phải biết nhân sự đó đang ở nấc thang nhu cầu nào. Từ đó, cho phép nhà quản lý đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc đáp ứng nhu cầu của nhân sự đồng thời đảm bảo đạt được hiệu quả tổ chức (Lam, 1996). Học thuyết về Hệ thống hai nhân tố của Frederic Herzberg (1959) Học thuyết 2 nhân tố của Herzberg được dựa trên nền tảng tạo động lực là kết quả của sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Trong đó, bao gồm có các yếu tố tạo nên sự thoả mãn và không thoả mãn.
Mỗi yếu tố gồm có hai mặt phụ thuộc vào việc yếu tố được thực hiện như thế nào và được đáp ứng ra sao để thấy rõ bản chất của nó. Sự khám phá của học giả Herzberg đã tạo ra một sự bất ngờ lớn vì nó đã hoàn toàn thay đổi nhận thức của con người. Các yếu tố có liên đới đến sự thỏa mãn công việc được gọi là nhân tố động viên (Motivator) - nhân tố bên trong. Các yếu tố liên quan đến bất mãn gọi là yếu tố duy trì (Hygiene Factors) - nhân tố bên ngoài.
Đối với các nhân tố động viên nếu được xử lý tốt sẽ tạo ra sự thoả mãn và sẽ động viên nhân sự làm việc tích cực và hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu nhân tố động viên không được đáp ứng tốt, sẽ tạo ra tình trạng không thoả mãn chứ chưa chắc đã bất mãn. 21 - Nhân tố động viên là tác nhân của sự thoả mãn, sự hài lòng trong công việc, như: + Đạt kết quả mong muốn; + Sự chấp nhận của tổ chức, nhà quản lý và đồng nghiệp; + Trách nhiệm; + Sự tiến bộ, thăng tiến trong công việc; + Sự phát triển như kì vọng; - Nhân tố duy trì là tác nhân của sự bất mãn của nhân viên trong công việc là do: + Chế độ, chính sách của tổ chức; + Sự theo dõi trong công việc không phù hợp; + Cuộc sống cá nhân; + mối quan hệ với đồng nghiệp không được tốt đẹp; + Quan hệ với các cấp (cấp trên, cấp dưới) không đạt được sự hài lòng. Thuyết hai nhân tố Thuyết hai nhân tố của F.
Herzberg có những ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị: Những nhân tố làm đáp ứng người lao động là khác với các nhân tố tạo ra sự bất mãn. - Động viên nhân viên đòi hỏi phải đáp ứng thỏa đáng đồng thời cả hai nhóm yếu tố duy trì và động viên. Học thuyết công bằng của J.