Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Nguồn nhân lực y tế. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con người [54]. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận nghiên cứu nhưng một số đặc điểm luôn được đề cập tới trong các nghiên cứu về nguồn nhân lực là: - Số lượng nhân lực: bất kì tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào, câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ cần thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai. - Chất lượng nhân lực: là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kĩ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của người lao động. - Cơ cấu nhân lực: là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực, cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi… Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả hiện tại cũng như trong tương lai.
Nguồn nhân lực cũng phản ảnh tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới [54]. Nhân lực y tế và tầm quan trọng của nhân lực y tế Định nghĩa: Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “NLYT bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khỏe”. Theo đó, NLYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và nhân viên khác (nhân viên cấp dưỡng, hộ lý, lái xe, kế toán. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam nhân lực y tế bao gồm: Cán bộ nhân viên y tế trong biên chế và hợp đồng đang làm việc trong hệ thống y tế 6 công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người tham gia vào hoạt động quản lý và cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (Nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y và người đỡ đẻ).
Tất cả những người thuộc nhân lực y tế đều phải được đề cập đến khi xây dựng và thực hiện các kế hoạch đào tạo, sự dụng, quản lý và phát triển nhân lực y tế [54]. Tầm quan trọng của nhân lực y tế: Trong hệ thống y tế, có 6 yếu tố đầu vào quan trọng bao gồm cung ứng dịch vụ, nhân lực y tế, thông tin, các sản phẩm y tế, vaccin, dược phẩm, công nghệ, tài chính và quản lý điều hành. Trong đó, nhân lực y tế có vai trò quyết định và quan trọng trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Theo WHO, nguồn nhân lực y tế được coi là một trong những thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống.
Nguồn nhân lực có mối liên hệ chặt chẽ và không thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế [54]. Phát triển nguồn nhân lực cho y tế là một trong những ưu tiên trong chính sách y tế mà nhà nước phải đầu tư và có trách nhiệm chính. Theo WHO " Mục tiêu của phát triển nhân lực y tế là có một đội ngũ cán bộ phù hợp, có năng lực thích hợp cho những vị trí phù hợp để thực hiện những công việc phù hợp và nhờ vậy có thể nhanh chóng vượt quan các khủng hoảng, giải quyết được những bất cập hiện tại và đón đầu được trong tương lai [9]. Các hợp phần nguồn lực đầu vào của hệ thống y tế cần có những tiêu chí cơ bản.
Nhân lực y tế phải đủ về số lượng, cơ cấu và phân bổ hợp lý, đảm bảo trình độ chuyên môn theo nhiệm vụ được giao, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và ứng xử tốt. Cơ chế tài chính y tế cần huy động đủ nguồn kinh phí đầu tư cho y tế với cơ cấu hợp lý giữa chi tiêu công và chi tiêu tư cho y tế, bảo đảm người dân có khả năng tiếp cận và sử dụng được các dịch vụ y tế khi cần thiết, được bảo vệ để tránh khỏi rủi ro tài chính hoặc nghèo đói do các chi phí liên quan đến y tế; đồng thời khuyến khích việc sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí sẵn có dành cho y tế. Hệ thống thông tin y tế phải thu nhập, phân tích và cung cấp các thông tin tin cậy và kịp thời giúp cho việc hoạch định chính sách và quản lý các hoạt động của hệ thống y tế. Dược phẩm, vaccin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế, công nghệ và cơ sở hạ tầng là những yếu tố đầu 7 vào không thể thiếu cho hệ thống y tế vận hành.
Các yếu tố này cần có chất lượng theo đúng qui định để dịch vụ y tế có chất lượng, an toàn và hiệu quả. Lãnh đạo và quản trị bao gồm phải đảm bảo có các khung chính sách và chiến lược, kết hợp với việc giám sát hiệu quả, xây dựng sự liên kết, các văn bản pháp qui, quan tâm đến thiết kế hệ thống và tính trách nhiềm. Tất cả 5 hợp phần đầu vào trên là nhằm để cung ứng dịch vụ y tế tốt nhất cho mọi người dân, bao gồm các dịch vụ khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, phòng bệnh, nâng cao sức khỏe, được sắp xếp thành mạng lưới có các chức năng phù hợp theo các tuyến. Các dịch vụ y tế cũng cần đạt được những tiêu chí cơ bản đó là bao phủ toàn dân, người dân có khả năng tiếp cận được (về tài chính và về địa lý), các dịch vụ phải đảm bảo công bằng, hiệu quả và chất lượng.
Kết quả đầu ra và mục đích cuối cùng của hệ thống y tế là nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời góp phần đảm bảo công bằng xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [29]. Nguồn nhân lực trong lực lượng Công an nhân dân. Tiń h đế n hế t năm 2013, toàn ngành Công an có 4167 cán bô ̣ y tế , trong đó[8]: - Khố i bê ̣nh viê ̣n thuô ̣c Bô ̣: 1360 người - Khố i công an tin̉ h, thành phố trực thuô ̣c TW: 1904 người - Khố i Tổ ng cu ̣c, Bô ̣ Tư lê ̣nh: 286 người - Khố i tra ̣i giam, cơ sở giáo du ̣c trường, giáo dưỡng: 440 người - Khố i ho ̣c viê ̣n, trường CAND: 110 người Nếu tính theo số giường bệnh, toàn ngành Công an cần bổ sung khoảng 3531 cán bộ y tế, trong đó ít nhất cần thêm 883 bác sĩ. Đó là chưa kể số lượng cán bộ y tế cần bổ sung cho các đầu mối đơn vị độc lập, đơn vị mới tách, mới bổ sung chức năng nhiệm vụ.
Về trình độ chuyên môn, số cán bộ có trình độ sau đại học là 248 người (5,9%); đại học và cao đẳng là 738 người (17,7%); trung học là 2436 người (58,5%), sơ học là 745 người (17,9%). Xét mô ̣t cách tổ ng thể cơ cấ u cán bô ̣ y tế CAND là chưa hơ ̣p lý, bình quân mỗi bác si ̃ thì có tới khoảng 4 nhân viên phu ̣c vu ̣. Tỉ lê ̣ này theo khuyế n cáo của Bô ̣ Y tế ta ̣i theo thông tư liên tich ̣ số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/06/2007 chỉ là 3-3,5. 8 Tỉ lê ̣ Dươ ̣c si ̃ đa ̣i ho ̣c trở lên/bác si ̃ cũng rấ t thấ p, chỉ đa ̣t 1/19,2 lần (43 dươ ̣c si/̃ 826 bác si)̃.
Như vâ ̣y, y tế công an nhân đang ở trong tiǹ h tra ̣ng thiế u dươ ̣c sỹ đa ̣i ho ̣c. Bởi theo quy đinh ̣ của Bô ̣ Y tế tỉ lê ̣ dươ ̣c si/̃ bác si ̃ chỉ nên từ 1/8 - 1/15. Nhân lực y tế ngành Công an có độ tuổi khá cao, nhóm tuổi từ 45 trở lên chiếm tới gần một nửa quân số (46,2%). Điều này cho thấy, trong khoảng 10 năm nữa, có gần một nửa số cán bộ đang phục vụ sẽ nghỉ.
Và nếu chúng ta không có giải pháp bổ sung kịp thời, trong 10 năm nữa sẽ phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng cán bộ y tế. Nhân lực y tế ngành Công an còn thiếu về số lượng, bất hợp lý về cơ cấu và khó khăn về nguồn bổ sung. Cho đến nay, nhân lực y tế ngành Công an chủ yếu dựa vào các nguồn sau: - Tuyển chọn vào trường Công an, sau đó cử đi đào tạo ở các trường đại học, học viện quân y. - Tuyển chọn chiến sĩ nghĩa vụ, nhân viên hợp đồng để cử đi đào tạo trung học y dược.
- Tuyển chọn cán bộ y tế ở ngành ngoài vào Công an phục vụ. Do không có cơ sở đào tạo cán bộ y tế nên nguồn nhân lực y tế ngành Công an hoàn toàn phụ thuộc bên ngoài, trong khi công tác tuyển chọn hết sức khó khăn, nhiều khu vực không tuyển được được cán bộ y tế nhất là khu vực giam giữ và đơn vị ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, một loạt vấn đề như thiếu chính sách đãi ngộ thoả đáng nên y tế ngành Công an chưa thu hút, giữ chân được người tài. Nghề y được xác định là nghề đặc biệt, trong Công an càng đặc biệt hơn bởi cán bộ y tế CAND không chỉ đơn thuần chăm sóc sức khoẻ người bệnh bình thường mà là y tế phục vụ chiến đấu, cán bộ y tế đang phải hy sinh cả xương máu để phục vụ sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự.
Trong khi đó, cán bộ y tế CAND chưa được hưởng chế độ đãi ngộ thích hợp, hầu hết đang hưởng lương chuyên môn kỹ thuật với thang bảng lương thấp, niên hạn kéo dài, tuổi phục vụ ngắn. Định mức biên chế y tế còn thấp: 0,5 biên chế/giường bệnh 9 Chưa có cơ chế huy động tiềm lực y tế quốc gia phục vụ sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. đó là những yếu tố đã và đang làm cho tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế ngành Công an. Động lực và động lực lao động Động lực là mức độ của một cá nhân sẵn sàng để phát huy và duy trì một nỗ lực nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức [49].