CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nhân lực y tế và tầm quan trọng của nhân lực y tế Điều dưỡng là một bộ phận cấu thành của nhân lực y tế. “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khỏe. Theo đó, nhân lực y tế: bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và nhân viên khác (nhân viên cấp dưỡng, hộ lý, lái xe, kế toán.)”, tổ chức Ytế thế giới(WHO), năm 2006 [32]. Nhân lực y tế ở Việt Nam bao gồm: “ Cán bộ nhân viên y tế trong biên chế và hợp đồng đang làm việc trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người tham gia vào hoạt động quản lý và cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (Nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y và người đỡ đẻ)’’: định nghĩa của WHO “Tất cả những người làm việc trong nghành y tế đều phải được đề cập đến khi xây dựng và thực hiện các kế hoạch đào tạo, sự dụng, quản lý và phát triển nhân lực y tế” [32].
Tầm quan trọng của nhân lực y tế: có 6 yếu tố đầu vào trong hệ thống y tế của Việt Nam, bao gồm:những bộ phận tham gia cung ứng dịch vụ, những người làm việc trong nghành y tế và các bộ phận liên quan như công nghệ thông tin, các sản phẩm y tế, vaccin, dược phẩm, công nghệ, tài chính và quản lý điều hành. Trong đó, con người có vai trò quyết định và quan trọng nhất trong quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tổ chức y tế Thế giới đánh giá tầm quan trọng của nhân lực y tế như sau: “ nguồn nhân lực y tế được coi là một trong những thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống. Nguồn nhân lực có mối liên hệ chặt chẽ và không thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế” [32].
Một trong những ưu tiên cần được đầu tư trong chính sách y tế mà Nhà Nước phải đầu tư và có trách nhiệm chính đó là phát triển nguồn nhân lực. Theo tổ chức y tế Thế giới: Mục tiêu của phát triển nhân lực y tế là đào tạo được một đội ngũ cán bộ y tế có năng lực thích hợp cho những vị trí phù hợp để thực hiện những công việc được giao theo vị trí việc làm. Như vậy, mới có thể vượt qua các khủng hoảng, giải 5 quyết được những bất cập về nhân lực hiện tại và đón đầu được thành tựu khoa học trong tương lai. Quản lý nhân lực y tế Vấn đề quản lý nhân lực, trong quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ nói chung, các dịch vụ y tế nói riêng còn rất nhiều khó khăn, phức tạp hơn nhiều so với quản lý nhân lực trong quá trình sản xuất hàng hóa.
“Đây được đánh giá là khâu hết sức quyết định trong quá trình tổ chức và cung cấp dịch vụ y tế. Được xem là bước hướng tiếp cận chiến lược trong vấn đề phát triển nhân lực với việc đạt được các mục tiêu tổ chức cung cấp dịch vụ y tế”[22]. Đặc thù nguồn nhân lực ngành y tế Ngày 23/2/2005, Bộ chính trị đã có nghị quyết số: 46/NQ-TW nêu rõ nguyên tắc chỉ đạo nguồn nhân lực y tế: “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng phát biểu: Ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế. Đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinh nghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên quan đến tính mạng con người và hạnh phúc gia đình”.2 Khái niệm về điều dưỡng: Điều dưỡng là người phụ trách công tác chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, kê toa thuốc và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến khi phục hồi, trị bệnh cho bệnh nhân.
Giai đoạn trước, điều dưỡng viên được gọi là Y tá: phụ tá của các Y, Bác sỹ. Sau này, Bộ y tế đã quy định: điều dưỡng được xem là một nghề độc lập, cùng cộng tác với Y, Bác sỹ và Dược sỹ.và các thành viên của hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sốc sức khỏe cho nhân dân. Người làm nghề điều dưỡng được gọi là điều dưỡng, có cấp bậc, trình độ chuyên môn được quy định cụ thể và chi tiết theo các văn bản của Nhà Nước và bộ Y tế. Bộ Y tế tại Thông tư: TT 07/2011/ TT-BYT Ngày 26 tháng 11 năm 2011, đã quy định nhiệm vụ cụ thể của điều dưỡng là chăm sóc sức khỏe.
Bao gồm: Tư vấn; hướng dẫn giáo dục sức khỏe; chăm sóc: về tinh thần, vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng, 6 về phục hồi chức năng, chăm sóc bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật thủ thuật; dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc theo y lệnh. Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng khác: như theo dõi, đánh giá tình trạng người bệnh, đảm bảo an toàn và phòng ngừa các sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chắm sóc bệnh nhân và ghi chép vào hồ sơ bệnh án. Hiện nay, trong công nghệ số phải biết tin học để truy tiền sử của bệnh nhân, thanh quyết toán các khoản cho bệnh nhân và sử dụng thành thạo các quy trình của bệnh án điện tử.3 Một số khái niệm về động lực làm việc Mỗi con người sinh ra là có nhu cầu. “ Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó”.
Tùy theo điều hiện, trình độ nhận thức, môi trường, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Có thể chia lại thành 2 nhóm: là nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần. Mỗi con người là khác nhau, khác nhau về hình thể, khác nhau về khả năng lao động và cả khác nhau về mức độ cố gắng thực hiện công việc, hay còn gọi là động lực làm việc.Động lực làm việc của con người phụ thuộc vào đông cơ của họ có đủ mạnh hay không. Theo Hitt, cộng sự: “Động lực là năng lượng đến từ mỗi cá nhân và tham gia vào tạo định hướng, giúp họ kiên trì nỗ lực để đạt được một mục tiêu cụ thể mà họ đã tự đề ra chứ không phải dựa theo khả năng hay do yêu cầu của môi trường ”.
Theo từ điển tiếng Việt:“Động lực được hiểu là cái thúc đẩy làm cho phát triển”. Theo Robbins và cộng sự “ Động lực là một quá trình của một cá nhân định hướng và kiên trì nỗ lự để đạt được mục tiêu đã đề ra”. Theo Hoàng Mạnh Toàn: “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới đạt mục tiêu của tổ chức” [11]. Một cách hiểu chung nhất: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu.
7 Như vậy, động lực của người lao động, nó xuất phát từ chính bản thân họ. Nó không xuất phát từ bất kỳ tác động bên ngoài nào. Động cơ cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người, trong môi trường sống và điều kiện làm việc. Còn hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp và tác động của nhiều yếu tố như văn hóa tổ chức, phong cách lãnh đạo, cơ cấu tổ chức, các chính sách nhân lực và cách thức triển khai các chính sách đó.
Tạo động lực trong lao động, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng đều có điểm chung nhất là: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm “Động lực lao động là khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”[8]. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn “ Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”[19]. Tóm lại, để tạo đông lực cho người lao động, bệnh viên cần: tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu.
Đây là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của bệnh viện. Các biện pháp được có thể là đòn bẩy kích thích cả vật chất lẫn tinh thần cho người lao động. Còn, cách ứng xử của bệnh viện thể hiện ở việc bệnh viện đối xử như thế nào đối với người lao động. Bệnh viện chỉ đạt được năng suất lao động tốt nhất khi người lao động làm việc một cách tích cực, sáng tạo và tâm huyết.4 Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực Hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Abraham Maslow năm 1943: Tháp nhu cầu Maslow cho rằng: con người có rất hiều nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn.
Ông đã đưa ra hệ thống nhu cầu đó gồm 5 nhóm, từ bậc thấp đến nhu cầu bậc cao nhu sau:. Trong đó, Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ… Đây là nhu 8 cầu không thể thiếu hụt. Nếu không đáp ứng đủ, con người sẽ không tồn tại được nên con người sẽ đấu tranh để có được và tồn tại. Nhu cầu bậc cao là nhu cầu cao hơn, Bao gồm, những nhân tố về tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự được mọi người tôn trọng… Khi nhu cầu ở cấp độ thấp được thỏa mãn, nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành động lực thúc đẩy.
Sau khi một nhu cầu được đáp ứng, thì nhu cầu bậc cao hơn sẽ xuất hiện. Kết quả con người luôn có các nhu cầu chưa được đáp ứng và các nhu cầu này thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn.