ĐẶT VẤN ĐỀ Nguồn nhân lực y tế được xem là yếu tố then chốt và quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế (1). Trên thế giới nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng động lực làm việc (ĐLLV) của nhân viên là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức. Có rất nhiều quan điểm khác nhau, trong đó “mức độ hài lòng công việc”, “sự cam kết với tổ chức” và “sự sẵn lòng làm việc” thường được dùng để do lường động lực làm việc (2). Nghiên cứu của Marjolein Dieleman (2003) và Inke Mathauer (2006) cũng cho thấy để duy trì nguồn nhân lực của một cơ sở chăm sóc sức khỏe cần phải tạo được động lực làm việc cho nhân viên y tế (NVYT), có thể thực hiện công việc đạt hiệu quả cao, ngược lại khi không có động lực thúc đẩy nhân viên y tế sẽ làm giảm các chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế cho người bệnh hoặc nhân viên y tế không gắn bó với cơ sở chăm sóc sức khỏe (3, 4).
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có 57/192 quốc gia thiếu hụt nhân viên y tế, cần phải có thêm 4,3 triệu nhân viên y tế trong đó có 2,4 triệu bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về chăm sóc y tế (5). Việt Nam cũng không ngoại lệ, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về NVYT, tình trạng thiếu hụt cả về chất lượng và số lượng (6). Các nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế có ĐLLV chưa cao: trên thế giới dao động ở mức 30-70% (7),(8); trong khi các nghiên cứu tại Việt Nam tỷ lệ có ĐLLV thấp nhất là 60% - 76,5% (9),(10),(11). Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới động lực làm việc của NVYT như: chế độ lương thưởng, đánh giá thực hiện công việc, đào tạo và phát triển, môi trường làm việc, quan hệ với đồng nghiệp và lãnh đạo, công tác quản lý công việc, các chính sách, quy định của tổ chức.
Vì vậy, ĐLLV của nhân viên y tế (NVYT) nói chung và của ĐDLS nói riêng giữ vai trò rất quan trọng. Hiện nay, Bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark Đồng Nai nhân sự điều dưỡng tại bệnh viện chiếm khoảng 40% tổng nhân viên bệnh viện. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh điều dưỡng luôn chịu nhiều áp lực như: chưa có tiếng nói chung trong công việc, áp lực từ phía người bệnh, quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, cơ hội thăng tiến chưa được quan tâm. Từ những vấn đề nêu trên, câu hỏi được 2 đặt ra là: Động lực làm việc của nhân viên y tế tại đơn vị hiện nay ra sao? Các yếu tố trên ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên y tế như thế nào? Xuất phát thực trạng đó, nhằm giúp lãnh đạo bệnh viện có cái nhìn toàn diện về động lực làm việc của điều dưỡng, cũng như tìm ra được yếu tố nào cần động viên khuyến khích để có những chính sách phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng một cách hợp lý đảm bảo chất lượng và ổn định bền vững, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark Đồng Nai năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark Đồng Nai năm 2022. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark Đồng Nai năm 2022.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và vai trò của điều dưỡng 1. Khái niệm điều dưỡng Theo Florence Nightingale (1820 – 1910) cho rằng, điều dưỡng là nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ. Vai trò trọng tâm của người điều dưỡng là giải quyết các yếu tố môi trường xung quanh người bệnh để họ phục hồi sức khoẻ một cách tự nhiên (Lý thuyết về khoa học vệ sinh) (12).
Theo Hội Điều dưỡng Thế giới năm 1973, điều dưỡng là chăm sóc và hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động hàng ngày. Chức năng nghề nghiệp cơ bản của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khoẻ của người bệnh hoặc người khoẻ, cũng như làm cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá nhân có thể thực hiện được nếu như họ có đủ sức khoẻ, ý chí và kiến thức, giúp đỡ các cá thể khác sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt(13). Theo American Nurses Association (ANA) 2003: Điều dưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội (14, 15). Nhiệm vụ của người điều dưỡng Vai trò của điều dưỡng trong các cơ sở khám chữa bệnh theo quy định tại Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV (16).
Chăm sóc người bệnh tại cơ sở y tế: + Thăm khám, nhận định, xác định vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh. + Nhận định tình trạng sức khỏe người bệnh và ra chỉ định chăm sóc, theo dõi phù hợp với người bệnh. + Tổ chức thực hiện kiểm tra, đánh giá diễn biến hàng ngày của người bệnh; phát hiện, phối hợp với bác sĩ điều trị kịp thời diễn biến bất thường của người bệnh. + Tổ chức thực hiện kiểm tra, đánh giá công tác chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh giai đoạn cuối và hỗ trợ tâm lý cho người nhà người bệnh.
5 + Phối hợp với bác sĩ đưa ra chỉ định về phục hồi chức năng và dinh dưỡng cho người bệnh một cách phù hợp. + Tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá công tác chăm sóc dinh dưỡng cho NB. + Tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc ghi chép hồ sơ theo quy định. + Tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện quy trình chăm sóc người bệnh.
Sơ cứu, cấp cứu: + Chuẩn bị sẵn sàng thuốc và phương tiện cấp cứu. + Đưa ra chỉ định về chăm sóc, thực hiện kỹ thuật sơ cứu, cấp cứu và một số kỹ thuật sơ cứu, cấp cứu chuyên khoa. + Tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và cấp cứu dịch bệnh và thảm họa. Truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe: + Tham gia đánh giá nhu cầu tư vấn, giáo dục sức khỏe.
+ Tham gia lập kế hoạch và phối hợp thực hiện truyền thông, giáo dục sức khỏe. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng: + Tổ chức thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu và tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia. + Tổ chức thực hiện truyền thông, giáo dục vệ sinh phòng bệnh tại cơ sở y tế và cộng đồng. + Nhận định và chẩn đoán chăm sóc, can thiệp điều dưỡng tại nhà: tiêm, truyền, chăm sóc vết thương, chăm sóc người bệnh có dẫn lưu và chăm sóc phục hồi chức năng.
Bảo vệ và thực hiện quyền của người bệnh: + Thực hiện các quyền của người bệnh, biện hộ quyền hợp pháp của người bệnh theo quy định của pháp luật. + Tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả biện pháp bảo đảm an toàn cho NB. Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị: + Thực hiện phân cấp chăm sóc người bệnh. + Phối hợp với bác sĩ điều trị tổ chức thực hiện công tác chuyển khoa, chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, ra viện.
6 + Hỗ trợ, giám sát và chịu trách nhiệm về chuyên môn đối với việc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng cấp thấp hơn. + Tổ chức, thực hiện quản lý hồ sơ, bệnh án, buồng bệnh, người bệnh, thuốc, trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao. Đào tạo nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp: + Tổ chức đào tạo và hướng dẫn thực hành cho học sinh, sinh viên và viên chức điều dưỡng. + Tổ chức, thực hiện nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh; áp dụng cải tiến chất lượng trong chăm sóc người bệnh.
+ Cập nhật, đánh giá và áp dụng bằng chứng trong thực hành chăm sóc. + Xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo liên tục và đào tạo chuyên khoa đối với viên chức điều dưỡng. Trong nghiên cứu này, đối tượng được nghiên cứu là những điều dưỡng có hoạt động công việc liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc sức khỏe của người bệnh tại các khoa lâm sàng, hay gọi là “điều dưỡng lâm sàng”. Tổng quan về động lực làm việc 1.
Định nghĩa động lực làm việc Theo Herzberg năm 1959: “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cường mọi nỗ lực của con người để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức” (17). Theo Kreiner và cộng sự (1992): “Động lực được định nghĩa như là quá trình tâm lý học mà mang lại những mục đích và phương hướng của hành vi” (18). Có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau được đưa ra về động lực làm việc, động lực làm việc được mô tả như là động lực thúc đẩy con người thực hiện hành vi hay hành động. Tuy nhiên, nhìn chung các quan điểm và định nghĩa này đều hướng đến nội dung: 7 yếu tố nào thúc đẩy con người thực hiện các hành vi; hành vi đó được chỉ đạo hoặc dẫn đường bằng những yếu tố nào; những hành vi này được duy trì hoặc bền vững như thế nào (2).
Nền tảng lý thuyết về động lực làm việc 1. Tháp nhu cầu của Maslow (1943) Theo Abraham Maslow (1943), nghiên cứu này phát triển trên cơ sở nghiên cứu hành vi trong tương quan nhu cầu con người. Hành vi con người phụ thuộc mức độ thỏa mãn nhu cầu của họ. Nhu cầu con người đa dạng nhưng được xếp theo 5 bậc chủ yếu theo trình tự.
Nhu cầu được thỏa mãn theo thứ tự từ thấp đến cao. Tại mỗi thời điểm con người trú trọng đến một nhu cầu nổi trội. Nhu cầu bậc thấp có giới hạn và thỏa mãn từ bên ngoài, nhu cầu bậc cao không giới hạn và thỏa mãn từ bên trong. Khi một nhu cầu bậc thấp nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện.