CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số kháiniệm * Điều dưỡng Định nghĩa đầu tiên về điều dưỡng được Florent Nightingale đưa ra vào năm 1860, theo đó “Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ”[6]. Năm 1965, Hội điều dưỡng Mỹ đưa ra định nghĩa “Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe” [6]. Tóm lại điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng dự phòng bệnh và điều trị đáp ứng nhu cầu sức khỏe con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội[6].
Một số khái niệm khác cũng đã được nêu rõ trong Thông tư 07/2011/TT- BYT của Bộ Y tế, đó là: * Chăm sóc người bệnh trong bệnhviện Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi ngư ời bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [7]. * Chăm sóc người bệnh toàndiện Chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD) là sự chăm sóc của người hành nghề và gia đình người bệnh lấy người bệnh làm trung tâm, đáp ứng các nhu cầu điều trị, sinh hoạt hàng ngày nhằm bảo đảm an toàn, chất lượng và hài lòng của người bệnh [7]. * Chăm sóc điềudưỡng Chăm sóc điều dưỡng là s ự hỗ trợ , đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết , tư thế, 5 vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ, những chăm sóc về tâm lý cho người bệnh, hỗ trợ điều trị và tránh nguy cơ có hại từ môi trường bệnh viện và môi trường sống [7]. Vai trò, chức năng của người điềudưỡng Vai trò: ĐDV là lực lượng trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho người dân ở cộng đồng và trong các cơ sở y tế với chi phí hợp lý và hiệu quả; đóng góp tích cực vào việc phòng và kiểm soát bệnh tật thông qua truyền thông, giáo dục nâng cao sức khỏe, khuyến khích lối sống lành mạnh cho người dân trong cộng đồng; duy trì và tăng cường sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, đồng thời đóng góp vai trò to lớn làm giảm tử vong sơ sinh, tử vong trẻ dưới một tuổi, tử vong mẹ trong vai trò của người đỡ đẻ có kỹ năng và người cung cấp các dịch vụ an toàn cho bà mẹ và trẻ sơ sinh[2].
Năm vai trò cơ bản của người điều dưỡng [6]: 1. Người chăm sóc: Chăm sóc là yếu tố cơ bản để thực hành điều dưỡng hiệu quả. Mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thể thay thế được sự chăm sóc của người điềudưỡng; 2. Người truyền đạt thông tin: Giao tiếp quy định mối quan hệ giữa người bệnh và người điều dưỡng, giữa người điều dưỡng và đồng nghiệp cũng như các nhân viên khác.
Nó có vai trò quan trọng trong hoạt động của người điềudưỡng; 3. Người giáo viên: Người bệnh cần có thêm kiến thức để tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằmviện; 4. Người tư vấn: Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh để nhận biết và đương đầu với những stress về tâm lý hoặc những vấn đề của xãhội; 5. Người biện hộ cho người bệnh: Thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm có những nhu cầu của người bệnh được đápứng.
Chức năng: Người điều dưỡng có 3 chức năng [6]: 1. Chủ động thực hiện các hoạt động CSĐD cho ngườibệnh; 2. Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bácsĩ; 3. Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc điềudưỡng Trong công tác CSNB, người điều dưỡng phải thực hiện nhiệm vụ chăm sóc điều dưỡng (CSĐD).
Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, CSĐD bao gồm 12 nhiệm vụ cụ thể như sau[7]: 1. Tư vấn, hướng dẫn GDSK cho ngườibệnh; 2. Chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho ngườibệnh; 3. Chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh cá nhân hàngngày; 4.
Chăm sóc dinh dưỡng cho ngườibệnh; 5. CSNB có chỉ định phẫu thuật, thủthuật; 7. Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho ngườibệnh; 8. CSNB giai đoạn hấp hối và người bệnh tửvong; 9.
Thực hiện các kỹ thuật điềudưỡng; 10. Theo dõi, đánh giá ngườibệnh; 11. Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc ngườibệnh; 12. Ghi chép hồ sơ bệnh án[7].
Một số văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của điềudưỡng Trước đây, người điều dưỡng chủ yếu thực hiện chức năng thụ động, đó là thực hiện y lệnh, phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ, hầu hết công tác chăm sóc cơ bản cho người bệnh được người nhà đảm nhiệm… Chính vì vậy, công tác chăm sóc của điều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của người bệnh.Để từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định 526/1993/QĐ-BYT ban hành chế độ trách nhiệm của y tá trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện [3].Đến năm 1996, Thông tư 11/1996/TT-BYT ra đời hướng dẫn tổ chức thực hiện CSNBTD và củng cố hệ thống điều dưỡng trưởng.Công tác CSNBTD đã được thể chế hoá thành Quy chế CSNBTD trong Quy chế bệnh viện vào năm 1997 [4]. Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/BYT-CT của Bộ trưởng Bộ Y tế ra đời đã yêu cầu mọi cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện CSNBTD, 7 các bệnh viện phải tăng cường công tác CSNBTD [5]. Để đảm bảo nhân lực triển khai hoạt động CSNB được thường xuyên và liên tục, năm 2008, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 08 Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước [1]. Những năm sau đó, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác CSNB, như là Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác đi ều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện [7] và Quyết định số 4858/2013/QĐ-BYT về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [9].
Hai văn bản nói trên là sự cập nhật phù hợp giữa các văn bản pháp luật với tình hình thực tế, nâng cao vị thế nghề nghiệp của người điều dưỡng, trao quyền cho các đơn vị vận dụng linh hoạt trong tổ chức quản lý điều dưỡng, quy định cụ thể về nhiệm vụ chăm sóc nhằm cung cấp đến những dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, hiệuquả. Một số nghiên cứu về việc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng trên thế giới và tại ViệtNam 1. Nghiên cứu về việc thực hiện nhiệm vụ của điềudưỡng 1. Thực hiện nhiệm vụ tư vấn hướng dẫn giáo dục sứckhỏe Tư vấn, hướng dẫn GDSK là nhiệm vụ đầu tiên trong 12 nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV.Tuy nhiên, một số nghiên cứutrên thế giới và Việt Nam nhận thấy hoạt động này trên thực tế chưa được các ĐDV xem trọng.
Tác giả Ausserhofer D và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứuviệc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng ở một số bệnh viện tại Châu Âu đã đưa ra kết luận chỉ có 41% ĐDV thực hiện nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh [30]. Nghiên cứu của hai tác giả M. Muntlin, Gunningberg L và Carlsson M (2006) cho thấy có đến 20% người bệnh cho rằng điều dưỡng không thể hiện sự quan tâm đến tình hình bệnh tật của họ và người bệnh cũng không nhận được những thông tin hữu ích từ điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [36]. Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Hưng (2012) cho thấy chỉ có 7,6% người bệnh nhận được hoạt động tư vấn, hướng dẫn giữ gìn sức khỏe từ các ĐDV [22].
Nghiên cứuNguyễn Thị Thùy Trâm (2014) thực hiện tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre) cho thấy nhiệmvụtưvấn,hướngdẫnGDSKchongườibệnhlànhiệmvụcómứcđộĐDV 8 hoàn thành khá thấp, chỉ đạt 20,2% [19]. Trong khi đó, kết quảnghiên cứu của Chu Anh Văn (2014) và nghiên cứu của Nguyễn Thùy Châu (2014) lại cho thấy hoạt động tư vấn, hướng dẫn GDSK là hoạt động có tỷ lệ ĐDV thực hiện khá cao. Tỷ lệ này ở nghiên cứu của Chu Anh Văn là 85,9% [11] và trong nghiên cứu của Nguyễn Thùy Châu là 81,3%[20]. Thực hiện các nhiệm vụ chămsóc Năm 2001, Nguyễn Thị Bích Lưu tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng của các dịch vụ CSĐD thông qua sự hài lòng của người bệnh.
Nghiên cứu được tiến hành khảo sát trên 175 bệnh nhân ngoại khoa của bệnh viện Banpong, tỉnh Ratchaburi, Thái Lan. Kết quả: 59,4% bệnh nhân đánh giá cao và 51% bệnh nhân rất hài lòng với hoạt động chăm sóc của điều dưỡng [38]. Khi tìm hiểu về việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc của điều dưỡng thông qua phỏng vấn người bệnh, một số nghiên cứu đã cho thấy, có một số nhiệm vụ không được các điều dưỡng triển khai tốt như hoạt động chăm sóc răng miệng (20%), hay hoạt động lập kế hoạch chăm sóc bệnh nhân (42%) [28, 30]. Một số nghiên cứu khác cho thấy, 20% người bệnh cho rằng điều dưỡng không thể hiện sự quan tâm đến tình hình bệnh tật của họ và người bệnh cũng không nhận được những thông tin hữu ích từ điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [36], một số nhu cầu về tâm lý và tinh thần của người bệnh chưa được điều dưỡng đáp ứng tốt[35].
Khi nghiên cứu về mức độ hài lòng của người bệnh với chăm sóc điều dưỡng tại một số bệnh viện công của Ethiopia năm 2014, tác giả Tahir Ahmed và cộng sự đưa ra kết luận 52,75% người bệnh được hỏi hài lòng với kết quả chăm sóc điều dưỡng; 62,71% hài lòng với chuyên môn của điều dưỡng; 55,67% hài lòng với hoạt động chăm sóc của điều dưỡng; 44,85% hài lòng với những thông tin về bệnh tật do điều dưỡng cung cấp và 55,15% hài lòng với cơ sở vật chất phục vụ người bệnh[39]. Khi nghiên cứu nhu cầu của người bệnh về công tác CSĐD tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, tác giả Trần Ngọc Trung (2012) cho thấy có 93% đến 97,2% người bệnh có nhu cầu về chăm sóc tinh thần; 91,8% đến 98% người bệnh muốn được thay quần áo và ga trải giường; 48,5% đến 73% người bệnh có nhu cầu cần 9 được hỗ trợ vận động, luyện tập phục hồi chức năng và 42,7% đến 56,2% người bệnh cần hỗ trợ vệ sinh cá nhân.