ĐẶT VẤN ĐỀ Từ trƣớc đến nay, trên thế giới công tác chăm sóc của điều dƣỡng luôn là một trong nhiều vấn đề đƣợc quan tâm ở nhiều nƣớc đặc biệt các quốc gia đang phát triển trong đó Việt Nam cũng rất lƣu tâm. Theo WHO, trong hệ thống y tế điều dƣỡng đƣợc đánh giá là trụ cột [20, 52]. Nếu bác sĩ là mảng chuyên khám và chữa bệnh cho ngƣời bệnh, ngƣời điều dƣỡng là ngƣời thúc đẩy, trợ giúp, hỗ trợ giao tiếp, chăm sóc ngƣời bệnh cả về vật chất lẫn tinh thần[6],[5]. Với tình hình hiện tại nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đƣợc nâng cao thì vị thế của điều dƣỡng càng quan trọng.
Vai trò của ngƣời điều dƣỡng chăm sóc ngƣời bệnh đã đƣợc khẳng định từ rất sớm và ngày càng khẳng định đƣợc vị thế của mình. Theo thống kê của cục Quản lý khám chữa bệnh ở Việt Nam (2018), bác sỹ làm trong công tác khám chữa bệnh có trên 73.000 điều dƣỡng, ngoài ra còn nữ hộ sinh làm việc tại các cơ sở chữa bệnh và khám bệnh. Tỷ lệ ĐD-NHS/BS là 1,8 thấp hơn rất nhiều so với quy định và các quốc gia trong khu vực và trên thế giới [14]. Thời gian gần đây trình độ điều dƣỡng đƣợc nâng lên đáng kể, nhƣng tình trạng nhân lực vẫn đang thiếu và quá tải, gây nhiều trở ngại đối với hoạt động chăm sóc hằng ngày của điều dƣỡng[14].
Thông tƣ 07/2011/TT-BYT về hƣớng dẫn các công tác điều dƣỡng do Bộ Y tế ban hành 26/01/2011 quy định về nhiệm vụ trách nhiệm và đảm bảo điều kiện thực hiện chăm sóc tại bệnh viện [9]. Tại Việt Nam nhiều nghiên cứu khác nhƣ nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Bích Ngà, Nguyễn Thị Thanh Điều (2007), Nguyễn Thị Diệu Trang và Châu Thị Hoa (2010), Dƣơng Thị Bình Minh (2012) [19], [17], [24] đã nói tới tầm quan trọng của công tác chăm sóc điều dƣỡng qua nhận xét của NB là rất lớn, một số yếu tố tác động lên công tác chăm sóc ngƣời bệnh mà chƣa có tiến hành trực tiếp hay gián tiếp quan sát cũng nhƣ từ phía ngƣời làm công tác chăm sóc trực tiếp cho ngƣời bệnh. Viện Y Dƣợc học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Viện) là một bệnh viện hạng 1 với quy mô giƣờng bệnh là 300 giƣờng công suất sử dụng tối 2 đa trong năm 2018 và đầu năm 2019. Theo nhận định của cán bộ y tế tại bệnh viện thì viện đang tiếp nhận điều trị những ngƣời bệnh bệnh điều trị dài ngày hoặc các bệnh đã điều trị bằng đông y đó một số công tác chăm sóc ít thực hiện đối với điều dƣỡng nhƣ vấn đề chăm sóc ngƣời bệnh trƣớc và sau phẫu thuật hay chăm sóc ngƣời bệnh tử vong hầu nhƣ không thực hiện.
Mặc bệnh nổi trội của viện là những bệnh mãn tính nằm lâu ngày, lớn tuổi, nhập viện nhiều lần nên nhiều vấn đề cần phải quan tâm, về mặt tinh thần, tâm lý và thể chất nên công tác tƣ vấn giáo dục sức khỏe và chăm sóc hƣớng dẫn có nhiều vấn đề cần cần phải khắc phục. Mang tính chất đặc thù của một bệnh viện đông y thƣờng điều trị những bệnh nhẹ, bệnh mãn tính và ổn định nhƣng hiện mặc bệnh cũng đa dạng, có một vài khoa có ngƣời bệnh nặng nhƣ các bệnh ung thƣ công tác chăm sóc cũng khó khăn. Cùng tỷ lệ tổng số ngƣời bệnh điều trị nội trú năm 2018 tăng 2.3 %, tổng số ngày điều trị tăng 6. Bên cạnh đó tại Viện còn thực hiện một số kỹ thuật kết hợp điều trị mà bắt buộc phải có sự hỗ trợ chăm sóc về chuyên khoa.
Lực lƣợng điều dƣỡng hiện tại đang còn mỏng. Với tình hình thực tế tại Viện với công tác chăm sóc của điều dƣỡng khối lâm sàng phải đối diện với nhiều áp lực từ ngƣời bệnh, từ yếu tố nguy cơ trong nghề nghiệp, từ những căng thẳng xung quanh công tác chăm sóc. Để tìm hiểu về thực trạng các công tác hiện tại của điều dƣỡng nhƣ thế nào? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến chất lƣợng chăm sóc của các điều dƣỡng lâm sàng? Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác chăm sóc của điều dưỡng với người bệnh nội trú tại Viện Y Dược học Dân tộc năm 2019” với mong muốn có cái nhìn tổng quan về công tác chăm sóc điều dƣỡng, xác định những yếu tố ảnh hƣởng. Nhằm có kế hoạch cải thiện nhiều hơn nữa chất lƣợng chăm sóc tại viện và đƣa ra một số những giải pháp hƣớng khắc phục để góp phần nâng cao sức khỏe của ngƣời bệnh và cũng nhƣ an tâm chữa trị của ngƣời bệnh thông qua việc hỗ trợ ngƣời thực hiện công tác chăm sóc ngƣời bệnh.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng công tác chăm sóc của điều dƣỡng với ngƣời bệnh nội trú tại Viện Y dƣợc học dân tộc năm 2019. Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến công tác chăm sóc ngƣời bệnh và đề xuất giải pháp. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Các khái niệm chung. Định nghĩa bệnh viện: - Theo WHO: “bệnh viện là một bộ phận của tổ chức y tế, nhiệm vụ của nó là chăm sóc sức khỏe toàn dân, phòng và điều trị bệnh. Bệnh viện còn là nơi đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu”[26].
Bệnh viện còn là một cơ sở y tế trong khu vực dân cƣ sinh sống bao gồm cở sở hạ tầng, trang thiết bị đội ngũ cán bộ phù hợp để thực hiện việc chăm sóc nuôi dƣỡng và chăm sóc cung cấp các dịch vụ y tế cho bệnh nhân. - Theo từ điển Việt Nam: “bệnh viện còn đƣợc gọi là nhà thƣơng là tổ chức chăm sóc sức khỏe cung cấp và điều trị cho bệnh nhân với các nhân viên y tế và điều dƣỡng chuyên ngành kết hợp với thiết bị y tế”[1]. Định nghĩa về ngƣời bệnh: - Theo luật khám chữa bệnh số 40/2009/QH12 định nghĩa ngƣời bệnh là: “ngƣời sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh”. - Theo từ điển Việt Nam: + Ngƣời bệnh “ngƣời bệnh còn đƣợc gọi là bệnh nhân là đối tƣợng đƣợc nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe”.
+ Ngƣời bệnh nội trú “đƣợc nhập viện và ở lại qua đêm hoặc trong một khoảng thời gian không xác định, thƣờng là vài ngày hoặc vài tuần, mặc dù trong một số trƣờng hợp nghiêm trọng, nhƣ hôn mê hoặc tình trạng thực vật vĩnh viễn, bệnh nhân sẽ phải ở lại bệnh viện trong nhiều năm, đôi khi cho đến khi qua đời. Điều trị đƣợc cung cấp theo cách này đƣợc gọi là chăm sóc nội trú. Có thủ tục khi bệnh nhân nhập viện, cũng nhƣ khi xuất viện”. + Ngƣời bệnh ngoại trú “bệnh nhân nằm viện dƣới 24 giờ”.
Định nghĩa chăm sóc ngƣời bệnh: TT 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế trong khoản XX điều 2 đã ghi nhƣ sau: “chăm sóc bệnh ban đầu trong bệnh viện bao gồm 5 đáp ứng các nhu cầu cần thiết nhất và sự hỗ trợ cho mỗi ngƣời bệnh nhằm duy trì tuần hoàn, hô hấp, dinh dƣỡng, chăm sóc tâm lý, thân nhiệt, bài tiết, vệ sinh cá nhân, tƣ thế, vận động, nghỉ ngơi; hỗ trợ điều trị và tránh những yếu tố nguy cơ từ bên ngoài, nhƣ môi trƣờng bệnh viện tác động vào ngƣời bệnh” [12]. Chăm sóc điều dƣỡng: Trong tài liệu hƣớng dẫn đánh và giá chất lƣợng CSNB của Hội điều dƣỡng Việt Nam chƣơng II có ghi nhƣ sau: “chăm sóc điều dƣỡng là thực hiện việc chăm sóc với ngƣời bệnh trong suốt quá trình chữa trị bệnh tại Viện. Nội dung chính bao gồm: tinh thần, chăm sóc thể chất, dinh dƣỡng, theo dõi, lập kế hoạch chăm sóc, phục hồi chức năng, sử dụng thuốc, giáo dục sức khỏe. Chăm sóc điều dƣỡng là ngƣời bệnh bắt đầu đến khám, vào nhập viện đến khi ngƣời bệnh ra viện hoặc tử vong” [25] 1.
Các khái niệm về điều dƣỡng Theo Florence Nightingale: “điều dƣỡng sử dụng môi trƣờng một cách nghệ thuật để hỗ trợ công tác phục hồi cho NB”[7]. Đến 1960, theo định nghĩa của Handeson “nhiệm vụ lớn nhất của ngƣời điều dƣỡng là hỗ trợ, nâng cao hoặc phục hồi sức của ngƣời khỏe hoặc ngƣời bệnh, hoặc giúp họ có đƣợc sức khỏe ý chí và kiến thức hoặc một cái chết nhẹ nhàng. Giúp đỡ các mỗi ngƣời bệnh để họ có đƣợc sự tự chủ cá nhân càng sớm càng tốt” [7]. Vào năm 1973 định nghĩa này đƣợc Hội đồng điều dƣỡng quốc tế chấp nhận và đa số các học thuyết điều dƣỡng đã có sự thống nhất, đồng bộ.
Vai trò và nhiệm vụ của điều dƣỡng là chăm sóc và hỗ trợ ngƣời bệnh thực hiện các hoạt động thƣờng ngày theo Handerson [7]. Theo Hiệp Hội điều dƣỡng Mỹ: “điều dƣỡng là một ngành nghề hỗ trợ cung ứng các dịch vụ chăm sóc góp phần vào việc cải thiện sức khỏe” [7]. Vào năm 1999 tại Việt Nam nhà xuất bản xã hội: “điều dƣỡng là ngƣời phụ trách các công tác điều dƣỡng, chăm sóc sức khỏe, theo dõi tình trạng ngƣời bệnh các công việc khác để phục vụ cho cả quá trình từ CSSK ban đầu cho đến phục hồi và trị liệu cho ngƣời bệnh”[1]. Trƣớc đây điều dƣỡng đƣợc xem là một ngành nghề phụ thuộc vào khối điều trị nhƣng hiện nay đƣợc gọi là điều dƣỡng viên vì họ đã có thể độc lập trong công việc CSNB và là một nghề mang tính độc lập trong toàn hệ thống y tế.
Bộ Nội vụ quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dƣỡng, mã số của nghề điều dƣỡng. 6 Ngƣời điều dƣỡng hiện có nhiều thứ bậc, trình độ và đã đƣợc quy định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định TT 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 TT liên tịch của BYT và BNV [15]. Một số học thuyết liên quan Học thuyết Nightingle: Florence Nightingle (1960) là nơi bắt nguồn của lịch sử các học thuyết điều dƣỡng, đƣợc xem nhƣ mô hình học thuyết và khái niệm điều dƣỡng, là ngƣời đƣa ra khung thực hành điều dƣỡng. Các nguyên lý của thực hành về điều dƣỡng của Florence Nightingle đánh giá vai trò chức năng của ngƣời điều dƣỡng không chỉ đơn thuần là hƣớng dẫn hoặc cho ngƣời bệnh sử dụng thuốc mà còn là định hƣớng môi trƣờng nhƣ một phƣơng tiện chăm sóc.
Điều dƣỡng cần biết mối liên hệ và sự ảnh hƣởng giữa môi trƣờng với bệnh tật, để tận dụng các yếu tố môi trƣờng để tác động vào việc chăm sóc. Môi trƣờng: Sự thông khí trong lành, ánh sáng, sức nóng, sự sạch sẽ, yên tĩnh, vệ sinh cá nhân để lồng ghép vào điều dƣỡng và điều trị. Tác động của học thuyết này nhiều đến nội dung thực hành của điều dƣỡng [7].