ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm gan vi rút (VGVR) B, C là bệnh nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của của con người. Bệnh nhân nhiễm VGVR B, C sẽ có nguy cơ nhiễm trùng mạn tính ở gan, có thể dẫn tới hậu quả cuối cùng là xơ gan và ung thư gan [41]. Theo Tổ chức Y tế thế giới ước tính có khoảng 2 tỷ người nhiễm viêm gan B, trong đó có khoảng 350 - 400 triệu người mắc viêm gan vi rút mạn tính [2]. Theo ước tính có khoảng 57% các trường hợp xơ gan và 78% trường hợp ung thư gan tiến triển do nhiễm vi rút viêm gan B, C [69], [70].
Tại Việt Nam viêm gan B, C hiện nay là vẫn đề lớn cần được toàn xã hội quan tâm. Theo ước tính năm 2015 tại Việt Nam có khoảng 8,4 triệu người nhiễm viêm gan B mạn tính dẫn đến 23.300 ca mắc VGB [62], theo các số liệu đã được công bố tại Việt Nam là nước có tỷ lệ nhiễm viêm gan C (HCV) cao đứng thứ hai trên thế giới với tỷ lệ nhiễm HCV ở Việt Nam là từ 4 - 9% [12]. Đối với lĩnh vực Y tế, theo WHO có gần 40% các trường hợp nhiễm HBV trong nhân viên y tế là do lây nhiễm nghề nghiệp. Theo ước tính hàng năm, trong 100 điều dưỡng thì có ít nhất 30 trường hợp bị chấn thương do bơm kim tiêm ít nhất một lần và trong mỗi lần bị kim đâm thì nguy cơ mắc viêm gan B là cao nhất (lên đến 30%) [68].
Cũng theo WHO có khoảng 36 triệu NVYT trên toàn thế giới, trong đó khoảng 3 triệu người mỗi năm bị thương tích với dụng cụ sắc nhọn, dẫn tới 2.000 đối tượng bị nhiễm HBV và 1. Tại Việt Nam theo nghiên cứu tại miền Bắc của Khúc Xuyền tỷ lệ nhiễm VGVRNN 13,1% [40], miền Trung của Viên Chinh Chiến là 17,6% [3], tại miền Nam tác giã Võ Hồng Minh Công nghiên cứu tại bệnh viện nhân dân Gia Định là 39% [28]. Các biện pháp làm giảm tỷ lệ hiện mắc bệnh viêm gan vi rút B, C là làm giảm các yếu tố nguy cơ có thể phòng ngừa phơi nhiễm trong quá trình làm việc [24], [44]. VGVR B, C với những đặc tính lây truyền qua đường máu, điều này có thể thấy rằng ngành y tế có nhiều yếu tố nguy cơ phơi nhiễm nhất, vì ngành y tế được xác định là loại hình lao động đặc biệt, đặc thù nhân viên y tế thường xuyên tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với máu và các bệnh phẩm của người bệnh trong khi thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp của họ [49].
Chính vì 2 vậy, bệnh VGVR B, C tại Việt Nam được công nhận là một trong 34 BNN được bảo hiểm [33]. Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ là Bệnh viện hạng I, có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh đa khoa cho nhân dân thành phố nói riêng và nhân dân của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Quy mô hoạt động của bệnh viện 500 giường, tuy nhiên công suất sử dụng giường bệnh của bệnh viện bình quân từ 119% - 130%. Bệnh viện luôn khám và điều trị số lượng bệnh rất đông, mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận trên 2200 lượt bệnh đến khám ngoại trú và khoảng 650 - 780 lượt khám bệnh nội trú [36].
Đây chính là áp lực rất lớn cho nhân viên y tế trong bệnh viện, đặc biệt là điều dưỡng đang trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, điều này đồng nghĩa với việc rất dễ dẫn đến phơi nhiễm nghề nghiệp [46]. Tại thành phố Cần Thơ đã có những nghiên cứu nhắc đến tình trạng nhiễm VGVR B, C. Tuy nhiên phần lớn nghiên cứu thực hiện trên cộng đồng, ít nghiên cứu nói về thực trạng nhiễm viêm gan vi rút nghề nghiệp ở nhân viên y tế. Nhằm đánh giá được thực trạng về kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút nghề nghiệp của NVYT, cũng như xác định các yếu tố liên quan đến phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút nghề nghiệp.
Từ đó giúp cho ngành y tế thành phố Cần Thơ có một cái nhìn tổng quan về thực trạng phòng phơi nhiễm VGVRNN, từ đó có những chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho NVYT trong việc dự phòng phơi nhiễm VGVRNN, góp phần làm giảm tỷ lệ hiện mắc bệnh viêm gan do vi rút nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu đó, chúng Tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp của điều dưỡng khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ, năm 2018”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp của điều dưỡng khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2018.
Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp của điều dưỡng khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2018. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm - Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động [21]. - Bệnh viêm gan B nghề nghiệp: Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp là bệnh gan do vi rút viêm gan B gây ra trong quá trình lao động [33].
- Bệnh viêm gan C nghề nghiệp: Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp là bệnh gan do vi rút viêm gan C gây ra trong quá trình lao động [33]. Chẩn đoán bệnh viêm gan B 1. Cấp tính Thể vàng da điển hình: Có tiền sử truyền máu hay các chế phẩm của máu, tiêm chích, quan hệ tình dục không an toàn trong khoảng từ 4 tuần đến 6 tháng [33]. Lâm sàng: có thể có các triệu chứng chán ăn, mệt mỏi, vàng da, tiểu ít sẫm màu, đau tức vùng gan, nôn, buồn nôn, phân bạc màu [33].
Cận lâm sàng: AST, ALT tăng cao (thường tăng trên 5 lần so với giá trị bình thường); Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp; HBsAg (+) hoặc (-) và anti - HBc IgM (+) [33]. Mạn tính HBsAg (+) > 6 tháng hoặc HBsAg (+) và Anti HBc IgG (+). AST, ALT tăng từng đợt hoặc liên tục trên 6 tháng. Có bằng chứng tổn thương mô bệnh học tiến triển, xơ gan (được xác định bằng sinh thiết gan hoặc đo độ đàn hồi gan hoặc Fibrotest hoặc chỉ số APRI) mà không do căn nguyên khác [33].
Chẩn đoán bệnh viêm gan C 1. Viêm gan cấp tính HCV - RNA dương tính. Anti - HCV có thể dương tính hoặc âm tính. AST, ALT bình thường hoặc tăng.
Định typ vi rút viêm gan C: để giúp tiên lượng đáp ứng điều trị và dự kiến thời 5 gian điều trị [33]. Thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng. Người bệnh được theo dõi có chuyển huyết thanh từ Anti - HCV âm tính sang dương tính, có thể có biểu hiện lâm sàng hoặc không [33]. Viêm gan mạn tính HCV - RNA dương tính.
Anti - HCV dương tính. Thời gian mắc bệnh trên 6 tháng, hoặc có biểu hiện xơ gan (được xác định bằng chỉ số APR1, hoặc sinh thiết gan có hình ảnh viêm gan mạn và xơ hóa có ý nghĩa, hoặc FibroScan, Fibrotest có xơ hóa > F2) mà không do căn nguyên khác [33]. Đƣờng lây nhiễm viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp Viêm gan vi rút B, C có nhiều đường lây nhiễm như: qua đường máu, qua quan hệ tình dục và lây truyền từ mẹ sang con [14], [25]. Tuy nhiên viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp là bệnh nghề nghiệp lây nhiễm trong quá trình lao động, đối với nhân viên y tế viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp chủ yếu lây qua đường máu.
Quá trình lây nhiễm thường xảy ra khi phơi nhiễm với máu của người bị nhiễm vi rút viêm gan B, C, các chế phẩm máu, dụng cụ tiêm truyền,…không được xử lý đúng qui định. Đặc biệt NVYT là những người có nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan cao hơn người bình thường do thường xuyên phải tiếp xúc với máu dịch bệnh nhân có nhiễm vi rút viêm gan. Lây truyền xảy ra khi niêm mạc và da bị trầy xước phơi nhiễm với các dịch cơ thể nhiễm vi rút viêm gan, dịch tiết từ các tổn thương (vết mổ, áp xe, dịch màng bụng, màng phổi,…) [14], [25]. Ngoài ra đối tượng nhiễm viêm gan vi rút trong bệnh viện cũng khá đa đạng: - Truyền nhiễm giữa bệnh nhân với bệnh nhân: đã được chứng minh các đợt dịch nhiễm viêm gan B, C ở một khu huyết học và một đơn vị ưng thư trẻ em [51].
- Truyền nhiễm viêm gan B, C từ nhân viên y tế đến bệnh nhân: Truyền nhiễm từ phẫu thuật viên đến bệnh nhân trong phẫu thuật tim đã được ghi nhận, tuy nhiên tần số truyền nhiễm chưa được xác định [51]. - Truyền nhiễm từ bệnh nhân đến NVYT: Truyền nhiễm từ bệnh nhân đến một điều dưỡng và từ người này truyền nhiễm đến 5 bệnh nhân khác đã được báo 6 cáo. Nguy cơ truyền nhiễm từ một phẫu thuật viên nhiễm viêm gan B, C đến bệnh nhân là 48%, nhưng chỉ có 0,04% từ bác sĩ sản khoa đến bệnh nhân sau khi mổ bắt con [52]. Tình hình nhiễm VGVR B, C trong cộng đồng Trên thế giới hiện nay có 2 tỷ người nhiễm vi rút viêm gan B trong đó có 350 triệu người nhiễm HBV mạn tính, 75% trong số này là người Châu Á, 25% người nhiễm HBV mạn có thể chuyển biến thành viêm gan mạn, xơ gan, ung thư gan nguyên phát [4], [67].
Cũng theo Tổ chức Y tế thế giới, hiện nay trên thế giới có khoảng 185 triệu người nhiễm HCV, chiếm 3% dân số trên thế giới.000 người chết vì hậu quả của HCV là xơ gan và ung thư gan [42]. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm bệnh thay đổi tùy theo quốc gia, trung bình từ 0,1 - 5% dân số. Tại Hoa Kỳ có khoảng 4,1 triệu người (chiếm khoảng 1,6%), ở Pháp có đến 500 - 650.000 người mang anti - HCV (+) chiếm 1 – 1,3% dân số, ở Út có 190.000 người chiếm 1% dân số. Tại các nước Á-Phi: tỷ lệ nhiễm ở Indonesia làm 3,9%, Yemen 6%, Lebanon 0,11%, Ai Cập 21%.
Còn ở các nước phát triển, HCV là nguyên nhân của 20% trường hợp viêm gan cấp, 70% viêm gan mạn tính, 40% viêm của xơ gan giai đoạn cuối, 60% của ung thư tế bào gan.