Đặt vấn đề Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho ngƣời dân. Đây cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải quyết đƣợc nhiều công ăn việc làm cho ngƣời lao động, là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tƣợng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời. Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao nhƣ thịt, trứng, sữa, mật ong. nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của ngƣời dân.
Một xu hƣớng tiêu dùng có tính qui luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung. Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quí giá cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dƣợc liệu. Chăn nuôi là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tƣơi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu. Tuy nhiên dịch bệnh xảy ra ngày một nhiều làm cho năng suất chăn nuôi giảm.
Đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm nhƣ bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng, đóng dấu. và một bệnh nguy hiểm đáng quan tâm là bệnh viêm phổi - màng phổi, ngoài việc thiệt hại về kinh tế còn ảnh hƣởng tới sức khỏe con ngƣời và đời sống xã hội của cả quốc gia. Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn vẫn đang là một trong những bệnh hoành hành nhiều nhất ở một số nƣớc trên thế giới và có ảnh hƣởng đáng kể đến hiệu quả kinh tế của trại. Bệnh do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra và đây luôn là mối hiểm họa nghiêm trọng đối với nhiều trại lợn vì tỉ lệ chết cao khi dịch bệnh nổ ra (lên đến 15%).
e 2 Bệnh thƣờng xảy ra ở nửa giai đoạn sau của quá trình tăng trƣởng của lợn nên gây ra thiệt hại nặng cho các nhà chăn nuôi, đòi hỏi phải có liệu pháp điều trị hợp lý và ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu suất của đàn lợn (tăng trọng thấp hơn nhƣng lại tăng tỉ số chuyển hóa thức ăn). Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi lợn trong nƣớc ngày càng phát triển, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và khả năng gây bệnh của chúng là một vấn đề cần thiết và cấp bách. Các kết quả có đƣợc từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò gây bệnh của vi khuẩn này, từ đó giúp các nhà chăn nuôi chủ động đƣợc các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Vì vậy, chúng em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh viêm phổi - màng phổi do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae trên đàn lợn rừng nuôi tại Chi nhánh công ty nghiên cứu & phát triển động thực vật bản địa và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tỷ lệ lợn rừng bị mắc bệnh viêm phổi - màng phổi tại trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh công ty nghiên cứu & phát triển động thực vật bản địa. - Thử nghiệm hiệu quả của một số phác đồ điều trị làm cơ sở cho việc điều trị bệnh viêm phổi - màng phổi tại trại. Ý nghĩa khoa học và cơ sở thực tiễn - Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần phục vụ cho các nghiên cứu về bệnh viêm phổi - màng phổi tiếp theo của trại và làm tƣ liệu nghiên cứu về bệnh viêm phổi - màng phổi tại Chi nhánh công ty nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa. - Các kết quả nghiên cứu điều trị bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị bằng một số phác đồ góp phần phục vụ sản xuất ở trại để kiểm soát và khống chế bệnh viêm phổi - màng phổi ở trong đàn lợn rừng nuôi tại cơ sở.
e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Vai trò và chức năng sinh lý của bộ máy hô hấp của lợn Đối với tất cả các loài động vật thì một trong những yếu tố quyết định đến sự sống là có đủ lƣợng O2.
Trong mỗi phút, cơ thể động vật cần 6 - 8ml O2 và thải ra 250ml CO2. Để có đủ lƣợng O2 thiết yếu này và thải ra đƣợc lƣợng CO2 ra khỏi cơ thể thì cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp. Quá trình hô hấp của cơ thể lợn đƣợc chia nhƣ sau: - Hô hấp ngoài: Là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trƣờng đƣợc thực hiện ở phổi thông qua các phế nang. - Hô hấp trong: Là quá trình sử dụng O2 ở mô bào.
- Quá trình vận chuyển CO2, O2 từ phổi đến mô bào và ngƣợc lại. Động tác hô hấp đƣợc điều khiển bằng cơ chế thần kinh thể dịch và đƣợc thực hiện bởi các cơ quan hô hấp. Cơ quan hô hấp của lợn gồm đƣờng dẫn khí (mũi, hầu, họng, khí quản, phế quản) và phổi. Dọc đƣờng dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân bố dày đặc, có tác dụng sƣởi ấm không khí trƣớc khi vào đến phổi.
Trên niêm mạc đƣờng hô hấp có nhiều tuyến tiết dịch nhờn để giữ bụi và dị vật có lẫn trong không khí. Niêm mạc đƣờng hô hấp cũng có lớp lông rung luôn chuyển động hƣớng ra ngoài do đó có thể đẩy các dị vật hoặc bụi ra ngoài. Cơ quan thụ cảm trên niêm mạc đƣờng hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí. Khi có vật lạ, cơ thể có phản xạ ho, hắt hơi… nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập vào sâu trong đƣờng hô hấp.
Khí O2 sau khi vào phổi và khí CO2 thả ra đƣợc trao đổi tại phế nang. e 4 Phổi lợn bao gồm rất nhiều phế nang làm tăng diện tích bề mặt trao đổi khí. Một động tác hít vào và thở ra đƣợc gọi là một lần hít thở. Tần số hô hấp là số lần thở/phút.
Mỗi loài động vật khác nhau trong điều kiện bình thƣờng có tần số hô hấp khác nhau: Lợn: 10-20 lần/phút Bò: 12-20 lần/phút Ngựa: 8-10 lần/phút Trong trƣờng hợp gia súc mắc bệnh hoặc gặp phải một số kích thích thì tần số hô hấp sẽ thay đổi có khi tăng lên hoặc giảm xuống. Hiểu biết về bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn Bệnh viêm phổi - màng phổi lợn là một bệnh đƣờng hô hấp lây lan mạnh, bệnh thƣờng gây chết lợn, chủ yếu là lợn choai. Đặc trƣng của bệnh là ho, khó thở, thở thể bụng, tần số hô hấp tăng cao. Lợn chết với bệnh tích phổi bị gan hóa và viêm dính thành ngực.
* Mầm bệnh Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, trƣớc đây còn có tên là Haemophilus parahaemolyticus hay H. pleuropneumoniae, đã đƣợc chứng minh là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn. - Đặc tính hình thái và tính chất nuôi cấy Vi khuẩn A. pleuropneumoniae là loại cầu trực khuẩn nhỏ, gram (-), kích thƣớc 0,3 - 0,5x0,6 - 1,4 m, không di động, không sinh nha bào và có hình thành giáp mô.
Dƣới kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có lông hay còn gọi là pili có kích thƣớc 0,5 - 2x60 - 450 nm. pleuropneumoniae là một vi khuẩn khó tính, khó nuôi cấy. Chủ yếu sinh trƣởng trong môi trƣờng đƣợc bổ sung 5% huyết thanh ngựa, và trong điều kiện có 5 - 10% CO2. Vi khuẩn không mọc trên môi trƣờng thạch máu e 5 thông thƣờng trừ khi thạch máu đƣợc bổ sung NAD và chúng mọc xung quanh các khuẩn lạc của tụ cầu do Staphylococcus aureus trong quá trình phát triển trên thạch máu đã phá huỷ hồng cầu có trong máu và sản sinh ra chất NAD.
Do đó cần cấy vài đƣờng tụ cầu kèm trên đĩa thạch máu khi phân lập vi khuẩn A. pleuropneumoniae trên môi trƣờng này. Vi khuẩn hình thành khuẩn lạc 0,5 - 1 mm sau 24h nuôi cấy trên thạch máu có cấy kèm tụ cầu và hình thành vùng dung huyết , nhất là khi sử dụng máu cừu (Kilian và cs, 1978 [15]) và ngƣời ta thấy hiện tƣợng này liên quan tới sự có mặt ba chất làm tan tế bào: Apx I; Apx II; Apx III (Nguyễn Lê Hoa, 2001) [3]. pleuropneumoniae có thể phân biệt đƣợc với H.
parasuis bởi sự xuất hiện dung huyết xung quanh đƣờng cấy tụ cầu trên thạch máu, vì vi khuẩn Haemophilus khi nuôi cấy trên thạch máu không gây ra hiện tƣợng dung huyết. Nhƣng với Haemophilus sp. (nhóm phụ) cần có NAD nhƣ Haemophilus sp. nhóm C (Trịnh Quang Hiệp, 2002) [4] nay đã đƣợc xếp vào nhóm Actinobacillus nhƣ A.
Trong môi trƣờng nuôi cấy, vi khuẩn đòi hỏi yếu tố V để phát triển, nó phát triển tốt trên môi trƣờng thạch Chocolate nhƣng vi khuẩn không mọc trên môi trƣờng MacConkey. pleuropneumoniae có khả năng lên men các loại đƣờng: Xylose, Ribose, Glucose, Fructose, Maltose,.và không lên men: Trehalose, Arabinose, Lactose, Raffinose, Mannitol,. Phản ứng sinh Indol, Oxidase, Catalase, Urease, CAMP Test dƣơng tính. - Sức đề kháng A.
pleuropneumoniae có sức đề kháng kém. Vi khuẩn chỉ tồn tại trong môi trƣờng tự nhiên trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên khi đƣợc bảo vệ bởi chất nhầy hoặc các chất hữu cơ khác thì vi khuẩn có thể sống sót trong vài ngày. Trong nƣớc sạch ở nhiệt độ 40C, vi khuẩn có thể sống đƣợc 30 ngày, nhiều giờ trong khí dung và có thể tồn tại đƣợc trong 4 ngày ở mô phổi và e 6 chất thải ở nhiệt độ phòng.
Nó bị diệt nhanh chóng ở điều kiện khô và các chất sát trùng thông thƣờng (Nielsen R. pleuropneumoniae là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi. Có thể chia thành 2 biotype dựa trên nhu cầu sử dụng NAD của vi khuẩn (Nguyễn Ngọc Nhiên, 1996) [7]). Biotype 1 của vi khuẩn khi nuôi cấy trên môi trƣờng nhân tạo phụ thuộc vào NAD, biotype 2 không phụ thuộc vào NAD nhƣng cần có các pyridine nucleotide đặc hiệu hoặc các chất tiền thân của pyridine nucleotide để tổng hợp NAD cần thiết cho sự phát triển của chúng.
Biotype 1 có độc lực cao hơn biotype 2. Đến nay, trong biotype 1, đã tìm thấy đƣợc 12 serotype, chúng đƣợc phân loại theo type huyết thanh từ 1 - 12 (riêng serotype 5 đƣợc chia làm 5A và 5B). Trong biotype 2, serotype 2, 4, 7, 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên nhƣ biotype 1.