Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 16 1. Tổng quan về điều dưỡng và công tác chăm sóc người bệnh 1. Sơ lược lịch sử phát triển ngành điều dưỡng Việc chăm sóc, nuôi dưỡng bắt đầu từ những bà mẹ. Bà mẹ là người đầu tiên chăm sóc, bảo vệ đứa con từ lúc bé lọt lòng và việc đó được dùy trì cho tới ngày nay.
Năm 60 tại Hy Lạp, bà Phobe đã đến từng gia đình có người ốm đau để chăm sóc. Bà được ngưỡng mộ và suy tôn là người nữ DD tại gia đầu tiên của thế giới. Giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành ĐD, đó là bà Frorence Nightingale (1820 — 1910). Khi chăm sóc NB, bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các cơ sở y tế và sau 2 năm, bà đã làm giảm tỷ lệ chết do nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2%, là người thành lập ra trường đào tạo ĐD đầu tiên trên thế giới.
Để tưởng nhớ công lao của bà, hội đồng ĐD thế giới đã quyết định lấy ngày 12-5 hàng năm là ngày sinh của Frorence Nightingale làm ngày ĐD quốc tế. Hiện nay ngành ĐD thế giới đã được xếp là một ngành nghẻ riêng biệt ngang hàng với các ngành nghề khác. Ở Việt Nam, ngành ĐD có những thay đổi mang tính chất nền móng rất cơ bản kể từ năm 1990 sau khi Hội ĐD Việt Nam ra đời, đó là: Đã hình thành hệ thống quản lý ĐD ở các cấp, đào tạo ĐD đã nâng lên ở trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học, thực hành ĐD đang có chuyển biến thành công qua thực hiện CSNB toàn diện, vị trí xã hội của người ĐD đã được lãnh đạo các cấp của ngành y tế và xã hội nhìn nhận ngày càng đúng mức [Š]. Định nghĩa về điều dưỡng Ngày nay, điều dưỡng đã xây dựng được nền tảng khoa học vững chắc gồm nhiều học thuyết điều dưỡng, hệ thống lý luận làm nền tảng cho thực hành nghề nghiệp, và nhiều nghiên cứu khoa học được đăng tải trên rất nhiều tạp chí khoa học uy tín.
Từ đó thuật ngữ “Điểu dưỡng” đã được nhiều tác giả và các tổ chức khác nhau định nghĩa. Định nghĩa về điều dưỡng của Nightingale (1860): Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh đề hỗ trợ sự phục hồi của họ [29]. 17 Theo hiệp hội điều dưỡng Hoa Kỳ (2003): Điều dưỡng là sự bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khoẻ và các khả năng: dự phòng bệnh và thương tích; xoa dịu nỗi đau qua chân đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội [31]. Theo quyết định số 41/2005/QĐ - BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ: “Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y té” [3].
Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế được thê hiện trong điều 3 của thông tư 07/2011/TT-BYT, gồm ba nguyên tắc cơ ban sau day [6]: - Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn. - Chăm sóc, theo dõi NB là nhiệm vụ của BV, các hoạt động chăm sóc, theo dõi do ĐDV, hộ sinh viên thực hiện và chỉu trach nhiệm. - Can thiệp ĐD phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi NB để chăm sóc phục vụ. Vai trò và chức năng của điều dưỡng Điều dưỡng là lực lượng chính cung cấp các dịch vụ CSSK cho NB, giữ các vai trò quan trọng như là: Người chăm sóc, người truyền đạt thông tin, người giáo viên, người tư vẫn, người biện hộ cho NB [34],[39].
Ba chức năng của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh toàn diện tại Việt Nam là [13]: - Chủ động thực hiện các hoạt động chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh. - Hễ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ. - Tu van, giao duc strc khoe. Nghia vu nghé nghiép của người điều dưỡng Điều dưỡng đang được công nhận là một nghề riêng biệt, có quy định tiêu 18 chuẩn nghiệp vụ của từng bậc DD theo quyết định số 41/2005/QĐ- BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ.
Trách nhiệm về đạo đức nghề nghiệp bao gồm trách nhiệm với cả NB, nghề nghiệp và với đồng nghiệp. Trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của người ĐD với NB phải đựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây [5]: Không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh: Ý thức trách nhiệm trước cudc song của NB đòi hỏi người ĐD một sự quan tâm đặc biệt và một sự sẵn sảng quên mình để giúp đỡ NB. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần nhớ rằng NB đang gặp khó khăn và đang cần sự giúp đỡ của người cán bộ y tế. Sự từ chối giúp đỡ NB là vi phạm nghĩa vụ xã hội của mình, phải chịu sự lên án về mặt đạo đức và khi cần phải bị xử phạt về hành chính.
Giúp đỡ người bệnh loại trừ các đau đớn về thê chất: Trước người bệnh đang bị đau đớn vì bệnh tật, người ĐD phải luôn thể hiện một sự thông cảm và quan tâm đặc biệt, xem nỗi đau đớn cua NB như nỗi đau đớn của chính minh dé tim mọi cách cứu giúp. Khi tiến hành các kỹ thuật chăm sóc và điều trị phải nhẹ nhàng để hạn chế tới mức thấp nhất sự đau đớn cho NB. Không bao giờ được bỏ mặc người bệnh: Người điều dưỡng có nhiệm vụ đấu tranh cho sự sống của NB đến cùng, luôn dành sự quan tâm tối đa cho NB với tinh thần “còn nước còn tát”, không bao giờ xa rời vị trí dé người bệnh một mình đối phó với bệnh tật. Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh: Trong khi nằm viện, tỉnh thần của NB chịu ảnh hưởng của bản thần bệnh tật, sự cách ly người thân, môi trường bệnh viện và nhiều yếu tố khác.
Vì vậy, tình trạng về tinh thần và thể chất của NB thực tế khác với tình trạng của người khỏe. Khi tiếp xúc với NB, người điều dưỡng phải gây được lòng tin của NB vào hiệu quả điều trị. Tôn trọng nhân cách người bệnh: Bản chất của y đức học được thể hiện trong câu “phải đối xử với người bệnh như anh muốn người ta đối xử với anh”. Mọi phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân NB đều được tôn trọng.
Một số lý thuyết điều dưỡng ứng dụng trong thực hành chăm sóc người bệnh của điều dưỡng 19 Nội dung CSNB được Thông tư 07/2011/TT-BYT quy định trên cơ sở tham khảo một số lý thuyết điều dưỡng thịnh hành, trong đó có lý thuyết về nhu cầu cơ bản (của Virgina Henderson) và lý thuyết về các mức độ phụ thuộc, tự chăm sóc của người bệnh (Dorothea Orem)). Lý thuyết nhu câu cơ bản của con người của Virgina Henderson Cho rằng, mỗi cá nhân đều có 14 nhu cầu cơ bản, khi CSNB, nguoi diéu dưỡng cần đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh, bao gồm [8]: - Hít thở bình thường - Ăn, uống đầy đủ - Bài tiết bình thường - Di chuyên và đuy trì tu thé mong muốn - Giác ngủ và nghỉ ngơi - Chọn quân áo, trang phục thích hợp, thay và mặc quân áo - Duy trì nhiệt độ cơ thể trong phạm vi bình thường bằng cách điều chỉnh quân áo và môi trường - Giữ cơ thể sạch và bảo vệ da - Tránh nguy hiểm trong môi trường và tránh làm tổn thương người khác - Giao tiép với người khác thê hiện được các cảm xúc, nhu cầu, sợ hãi - Niềm tin về tôn giáo hoặc một người nào đó - Tự làm một việc gì đó và cố găng hoàn thành - Chơi và tham gia một hình thức vui chơi giải trí nào đó - Tìm hiểu, khám phá hoặc thỏa mãn sự tò mò cá nhân dé phat triển và có sức khỏe bình thường. Lý thuyết Tự chăm séc cia Dorothea Orem (USA) Ngoài 14 nhu cầu cơ bản của cơn người nêu trên, lý thuyết về sự hạn chế tự chăm sóc của Dorothea Orem (USA) cũng cần được áp dụng. Đó là, người điều dưỡng cần đưa ra những hành động chăm sóc để thỏa mãn nhu cầu chăm sóc của người bệnh và những hành động chăm sóc này phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi người.
Mặt khác, người điêu dưỡng cân nhận định mức độ hạn chê tự chăm sóc của 20 NB để phát hiện nhu cầu chăm sóc của họ mà đáp ứng. Tùy thuộc vào mức độ hạn chế tự chăm sóc, NB được xếp vào 1 trong 3 cap dé sau day [8]: - Phụ thuộc hoàn toàn: Điều dưỡng phải thực hiện các hoạt động chăm sóc, điều trị, hỗ trợ toàn bộ cho người bệnh. - Phụ thuộc một phần: Điều đưỡng thực hiện các hoạt động điều trị là chính, hỗ trợ những hoạt động chăm sóc mà NB không tự chăm sóc được. - Tự chăm sóc: Người bệnh tự chăm sóc nhưng vẫn cần sự hỗ trợ trong điều trị, chăm sóc khi cần và họ cần được hướng dẫn, GDSK để tự chăm sóc và phòng ngừa biến chứng, phòng ngừa mắc bệnh khác.
Các hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng trong bệnh viện Nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh bao gồm các nội dung sau [6]: - Tư vẫn, hướng dẫn GDSK - Chăm sóc về tinh thần - Chăm sóc vệ sinh cá nhân (VSCN) - Chăm sóc dinh dưỡng - Chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN) - Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật - Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh - Chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và NB tử vong - Thực hiện các kỹ thuật điều đưỡng - Theo dõi, đánh giá người bệnh - Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh - Ghi chép hồ sơ bệnh án. Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/CT-BYT của Bộ Y tế đã yêu cầu, tăng cường công tác chăm sóc người bệnh toàn diện trong các bệnh viện, nhiệm vụ chăm sóc 21 người bệnh là của cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên trong toàn bệnh viện nhằm đảm bảo chất lượng chân đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh [4].