ĐẶT VẤN ĐỀ An toàn người bệnh (ATNB) là tránh và phòng ngừa tổn thương cho người bệnh (NB) hoặc sự kiện bất lợi trong quá trình chăm sóc. ATNB trong điều trị là mục tiêu trên hết của tất cả thầy thuốc trên thế giới [1]. Văn hoá an toàn người bệnh (VHATNB) là những giá trị, thái độ, nhận thức, năng lực và mô hình hành vi của mỗi cá nhân cán bộ y tế hay của cơ sở y tế. Những đặc điểm này xác định trách nhiệm và sự cam kết của một tổ chức chăm sóc sức khoẻ trong việc đảm bảo ATNB [2].
Môi trường VHAT gồm những hoạt động: báo cáo thường xuyên và bàn luận thoải mái về các sự cố, phân tích sai sót, phản hồi đến người phát biểu ý kiến, giúp đỡ nhân viên liên quan đến sự cố, trao đổi thông tin với NB về kết quả điều trị kể cả những sự việc xảy ra ngoài dự kiến, làm việc theo nhóm, chủ động đánh giá rủi ro và ngăn ngừa sai sót, để NB trở thành một thành viên tích cực trong đội ngũ nhân viên điều trị. Tại Hoa Kỳ, Viện Y Học đưa ra các số liệu thống kê đáng kinh ngạc từ 44.000 ca tử vong hàng năm do lỗi y tế, 7.000 ca tử vong có thể ngăn ngừa liên quan đến lỗi thuốc [3]. Năm 2004 Canada phát hiện các sai sót xảy ra trong hơn 7% bệnh nhân nhập viện và ước tính có 9.000 người chết hàng năm do lỗi y tế [3]. Năm 2004, Cơ quan Nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ và chất lượng (AHRQ) của Mỹ tiến hành khảo sát VHATNB, giúp các BV đánh giá VHAT trong tổ chức [4].
Năm 2007 AHRQ đã công bố “số liệu so sánh khảo sát bệnh viện về VHATNB” từ 382 bệnh viện tại Mỹ, sau đó số liệu này được cập nhật hàng năm. Đến năm 2018, theo kết quả khảo sát về VHATNB trên 382.834 NVYT của 630 bệnh viện tại Hoa Kỳ năm 2018, có 65% nhân viên đánh giá tích cực về công tác VHATNB [5]. Hiện nay nhiều nước như Bỉ; Thụy Điển; Rumani; Iran; Nhật Bản; Đài Loan,… đã sử dụng phương pháp, bộ công cụ của AHRQ để đánh giá VHATNB trong bệnh viện với các tỷ lệ đáp ứng tích cực dao động từ 55% đến 70% [6]; [7]; [8]; [9], cho thấy sự quan tâm này càng lớn của các cơ sở chăm sóc sức khỏe về lĩnh vực này. Trong thời gian gần đây, Bộ Y tế cũng đã ban hành nhiều văn bản nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, song chưa đề cập cụ thể, trực tiếp đến 2 VHATNB.
Tháng 6/2016, AHRQ chính thức công bố Việt Nam là quốc gia thứ 66 nghiên cứu về VHATNB [2]. Công trình nghiên cứu đầu tiên được triển khai tại Việt Nam do tác giả Tăng Chí Thượng đã tạo được phiên bản tiếng Việt của công cụ khảo sát ý kiến về VHATNB của cơ quan AHRQ [10]. Tiếp theo đó cũng đã có một số bệnh viện triển khai đánh giá VHATNB theo bộ công cụ này và các tỷ lệ đáp ứng tích cực thường trên 70% [11]; [12]; [13]; [14]. Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đi vào hoạt động từ tháng 9/2016 với định hướng chất lượng đạt chuẩn JCI - bộ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng y tế và an toàn cho người bệnh [15].
Trong đó vấn đề về VHATNB được coi là một trong những tiêu chí bắt buộc phải đạt được đối với yêu cầu của lãnh đạo bệnh viện và nhất là một bệnh viện tư mới đưa vào hoạt động và hướng tới cung cấp các dịch vụ chất lượng cao. Gần nhất, bệnh viện ghi nhận được báo cáo của 92 sự cố, trong đó chỉ có 45% sự cố này được NVYT chủ động báo cáo trong năm 2019. Thự tế, trong từ khi thành lập đến nay tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá về VHATNB của NVYT. Do vậy, Lãnh đạo bệnh viện nhận thấy cần thiết phải có nghiên cứu về vấn đề VHATNB của NVYT từ đó có những thay đối và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn ngƣời bệnh và một số yếu tố ảnh hƣởng của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020” với các mục tiêu sau. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng văn hóa an toàn ngƣời bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến văn hóa an toàn ngƣời bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. An toàn ngƣời bệnh An toàn người bệnh là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc [1]. Từ thời Hippocates, phương châm nổi tiếng “PRIMUM NON NOCERE” (trước tiên đừng làm hại người bệnh) đã nhắc nhở thầy thuốc cẩn trọng trong điều trị, chăm sóc người bệnh vì các quyết định và thủ thuật của thầy thuốc đều có thể gây hại cho người bệnh [16]).
Tuy vậy, cho đến thập niên 90 của thế kỷ 20, y học hiện đại mới bắt đầu quan tâm và phát hành nhiều nghiên cứu mô tả tính chất trầm trọng do sai sót trong thực hành y khoa, số liệu cho thấy trong CSSK cứ chăm sóc 10 người bệnh thì có 1 sai sót y tế ảnh hưởng đến người bệnh [3]. An toàn người bệnh là một chuyên ngành trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy. An toàn người bệnh còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố [17] Lĩnh vực ATNB sử dụng thuật ngữ sự cố để mô tả tác hại lên người bệnh phát sinh do chăm sóc y tế sau: Lỗi - Error: Thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng các quy định không phù hợp [18], [4]. Sự cố - Event: Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới người bệnh [17].
Sự cố suýt xảy ra - Near miss: là sự cố có khả năng gây nguy hại cho người bệnh nhưng đã không xảy ra do may mắn có hành động sữa chữa hoặc can thiệp kịp thời [18], [4]. Tác hại - Harm: Suy giảm cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể hoặc ảnh hưởng có hại phát sinh từ sự cố đã xảy ra. Tác hại bao gồm: bệnh, chấn thương, đau đớn, tàn tật và chết người [4] 5 Sự cố không mong muốn - Adverse Events (AE): Y văn của các nước sử dụng thuật ngữ “sự cố không mong muốn” ngày càng nhiều vì các thuật ngữ “sai sót chuyên môn, sai lầm y khoa” dễ hiểu sai lệch về trách nhiệm của cán bộ y tế và trong thực tế không phải bất cứ sự cố nào xảy ra cũng do NVYT. Theo WHO, sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế.
Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa [4]. Theo Bộ sức khỏe và dịch vụ con người của Mỹ: Sự cố không mong muốn gây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế [4]. Văn hóa an toàn ngƣời bệnh Khái niệm văn hóa an toàn bắt nguồn từ bên ngoài chăm sóc sức khỏe, trong các nghiên cứu về các tổ chức có độ tin cậy cao, các tổ chức luôn giảm thiểu các tác dụng bất lợi mặc dù thực hiện công việc phức tạp và nguy hiểm. Các tổ chức có độ tin cậy cao duy trì cam kết về an toàn ở tất cả các cấp độ, từ các nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp tới các nhà quản lý và giám đốc điều hành.
Cam kết này thiết lập một “văn hóa an toàn” bao gồm các đặc điểm chính: (1) Thừa nhận bản chất nguy cơ cao của hoạt động của một tổ chức và quyết tâm đạt được các hoạt động liên tục an toàn; (2) Một môi trường không có lỗi, nơi mà các cá nhân có thể báo cáo lỗi mà không sợ khiển trách hoặc trừng phạt; (3) Khuyến khích hợp tác qua các cấp bậc và kỷ luật để tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề an toàn người bệnh; (4) Cam kết tổ chức các nguồn lực để giải quyết các mối quan ngại về an toàn [17]. Theo Hiệp hội An toàn người bệnh quốc gia của Mỹ (2001), văn hóa an toàn người bệnh thể hiện năm thuộc tính ở mức cao mà nhân viên y tế nỗ lực đưa vào thao tác thông qua việc triển khai thực hiện các hệ thống quản lý an toàn mạnh mẽ. Năm thuộc tính bao gồm [19]: (1) Văn hóa trong đó mọi nhân viên y tế (gồm những người trực tiếp điều trị cho người bệnh, và cán bộ quản lý điều hành) đứng ra chịu trách nhiệm về an toàn của bản thân, của đồng nghiệp, bệnh nhân, thân nhân người bệnh và khách đến thăm; (2) Văn hóa ưu tiên đặt an toàn lên trước mục tiêu về tài chính và tổ chức; 6 (3) Văn hóa khuyến khích và khen thưởng nỗ lực phát hiện, thông báo và giải quyết các vấn đề an toàn; (4) Văn hóa trong đó tổ chức có cơ hội rút kinh nghiệm từ sự cố/tai biến; (5) Văn hóa cung cấp nguồn lực, cơ cấu và trách nhiệm giải trình phù hợp để duy trì hiệu quả các hệ thống đảm bảo an toàn. Một tổ chức được xem là có văn hóa an toàn khi mỗi thành viên của tổ chức đó, bất chấp ở cương vị nào, đều thể hiện vai trò chủ động trong phòng ngừa sai sót, và vai trò của từng cá nhân nhân này được sự hỗ trợ của tổ chức [4].