ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease – viết tắt là COPD) là bệnh thường gặp có thể dự phòng và điều trị triệu chứng, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn đường thở tiến triển ngày càng nặng dần, liên quan tới phản ứng viêm bất thường của đường thở và nhu mô phổi bởi các phần tử và khí độc hại. Các đợt cấp và bệnh đồng mắc góp phần làm tăng mức độ nặng ở mỗi bệnh nhân. [GOLD 2020] BPTNMT là một trong những nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên toàn thế giới dẫn đến gánh nặng kinh tế, xã hội ngày càng gia tăng. Dựa trên các nghiên cứu dịch tễ học, số ca mắc BPTNMT ước tính là khoảng 385 triệu ca năm 2010, với tỷ lệ mắc trên thế giới là 11,7% và khoảng 3 triệu ca tử vong hàng năm.
Ở Việt Nam nghiên cứu về dịch tễ học của BPTNMT năm 2009 cho thấy tỷ lệ mắc ở người > 40 tuổi là 4,2%. Với sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá tại các nước đang phát triển và sự già hóa dân số ở những quốc gia phát triển, tỷ lệ mắc BPTNMT được dự đoán sẽ tăng cao trong những năm tới và đến năm 2030 ước tính có trên 4,5 triệu trường hợp tử vong hàng năm do BPTNMT và các rối loạn liên quan. Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là tình trạng thay đổi cấp tính các biểu hiện lâm sàng, làm tăng các triệu chứng như khó thở, tăng, khạc đờm, cũng như màu sắc của đờm thay đổi. Điều này cần có sự thay đổi trong điều trị và chăm sóc người bệnh so với cách liệu pháp thông thường [9] Điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải có sự quản lý điều trị nội trú và ngoại trú lâu dài, do đó, việc chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị cho người bệnh.
Công tác chăm sóc điều dưỡng đối với người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần được lưu tâm ngay từ khi mới được chẩn đoán và xác định hướng điều trị nhằm đảm bảo người bệnh điều trị đủ phác đồ, phòng ngừa các biến chứng và giảm nhẹ các tác dụng phụ của quá trình điều trị, giảm chi phí và thời gian nằm viện và nâng cao chất lượng điều trị. Thang Long University Library 2 Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã được nghiên cứu trên thế giới, với bằng chứng về sự cải thiện khả năng tự chăm sóc của người bệnh, chất lượng cuộc sống, chất lượng chăm sóc, kiến thức và sự hài lòng của người bệnh. Tuy nhiên, tác động của công tác chăm sóc của điều dưỡng với sự cải thiện về mặt lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp tại Việt Nam vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.” với 2 mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở người bệnh bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Đa Khoa Huyện Tuyên Hoá, Tỉnh Quảng Bình. Phân tích một số yếu tố liên quan đến hoạt động chăm sóc. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1.1 Giới thiệu về bệnh Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được biết đến từ rất lâu và được hiểu rõ hơn về cả cơ chế sinh bệnh học, điều trị vào cuối thế kỷ XX.
Đồng thời sự nghiên cứu về BPTNMT cũng được phát triển mạnh mẽ. Trong hội nghị lần thứ 10-1992 của Tổ chức Y tế thế giới ( WHO) bàn về sửa đổi phân loại bệnh tật đã nhất trí dùng thuật ngữ COPD trong chẩn đoán và thống kê bệnh tật. Năm 1995, Hội lồng ngực Hoa Kỳ (ATS), Hội Hô hấp Châu Âu (ERS), các Hội lồng ngực khác đồng loạt đưa ra các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COPD. Năm 2001 Viện huyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (NHLBI) phối hợp với Tổ chức y tế Thế giới (WHO) đề ra chương trình khởi động toàn cầu về COPD viết tắt là GOLD (Global Initative for Chronic Obstructive Pulmonary Disease) [48].
Năm 2003, GOLD đã đưa ra bản cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COPD [47], từ đó đến nay hàng năm GOLD luôn đưa ra các bản cập nhật mới dựa vào các chứng thực trên lâm sàng. Định nghĩa Năm 2020 GOLD đưa ra định nghĩa COPD là bệnh lý thường gặp, có thể phòng ngừa và điều trị được. Đặc trưng các triệu chứng dai dẳng và giới hạn đường thở hoặc phế nang thường do tiếp xúc với hạt và khí độc hại kèm sự phát triển bất thường của phổi, bệnh đồng mắc làm tăng tàn phế và tử vong. Đặc điểm dịch tễ học 1.Đặc điểm dịch tễ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một trong những bệnh phổ biến trên thế giới và Việt Nam.
Theo WHO, năm 1990 tỷ lệ người bệnh mắc BPTNMT trên toàn thế giới ước tính khoảng 9,34/1000 ở nam và 7,33/1000 ở nữ. Tuy nhiên ước tính tại thời điểm này bao gồm ở mọi lứa tuổi chứ chưa phản ánh đúng tình trạng mắc BPTNMT ở người Thang Long University Library 4 cao tuổi [40]. BPTNMT gây ra gánh nặng đáng kể cho nền y tế thế giới và Việt Nam. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở người trên 40 tuổi khác nhau theo phương pháp đo lường, bao gồm 4,9% theo lời khai người bệnh; 5,2% theo chẩn đoán bác sỹ; và 9,2% theo hô hấp ký [45].
Theo ước tính của WHO, dự kiến năm 2020 tỷ lệ tàn tật và tử vong do BPTNMT được dự báo sẽ đứng hàng thứ 3 toàn cầu [40] 1. Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam Tại Việt nam, Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu trên 3606 người bệnh điều trị tại Trung tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai từ 1996 - 2000, tỷ lệ người bệnh được chẩn đoán BPTNMT lúc ra viện chiếm 25,1% đứng đầu trong các bệnh lý về phổi (31). Một nghiên cứu ở Bắc Giang trên 1012 người > 40 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 3,85% (nam 6,9% và nữ 1,4%) (2). Nghiên cứu điều tra dịch tễ học về BPTNMT do Bệnh viện Phổi Trung Ương tiến hành trên 25,000 người với quy mô toàn quốc công bố năm 2010 cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT tại Việt Nam là 4,2% (nam 7,1% và nữ 1,9%) (5).
Tại khoa lao - bệnh phổi, Bệnh viện 103 từ 2001 - 2010; 49,5% nhóm người bệnh viêm phế quản mắc BPTNMT (1). Nguyên nhân gây bệnh - Do vi khuẩn, virus: gây nhiễm khuẩn khí phế quản phổi cấp. - Do tắc mạch phổi, tràn khí màng phổi, rối loạn nhịp tim, rối loạn chuyển hóa. - Hút thuốc hoặc tiếp xúc với khói thuốc: BPTNMT xảy ra ở khoảng 15% người nghiện thuốc và việc sử dụng thuốc lá chiếm 90% nguy cơ mắc bệnh này.
- Hút thuốc lá thụ động hoặc tiếp xúc với khói thuốc cũng làm gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dẫn đến giảm chức năng của phổi. - Do Ô nhiễm môi trường: khói, buị nghề nghiệp, bếp than đây là những yếu tố nguy cơ để bệnh phát triển. - Tăng nhạy cảm đường dẫn khí: Là tình trạng đường dẫn khí phản ứng quá mức với những chất kích thích từ không khí, như khói thuốc lá và chất ô nhiễm. Vai trò làm yếu tố nguy cơ của chứng bệnh này đối với BPTNMT ở những người hút thuốc vẫn là nguyên nhân chính của bệnh.
Yếu tố nguy cơ 1. Thuốc lá Thuốc lá là một trong những yếu tố nguy cơ chính dẫn tới BPTNMT đóng vai trò trong 80 - 90% số người mắc BPTNMT. Thuốc lá còn là một trong những yếu tố nguy cơ của rất nhiều bệnh như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, loãng xương, ung thư phổi, viêm răng lợi,.và những nguy cơ này xảy ra cả với hút thuốc lá chủ động và thụ động. Hút thuốc chủ động hoặc thụ động đều làm tăng nguy cơ mắc BPTNMT.
Bụi và hóa chất nghề nghiệp Phơi nhiễm với bụi và hóa chất (như hơi, chất kích thích, khói bếp than) nghề nghiệp, đặc biệt trong một thời gian dài, làm tăng nguy cơ tắc nghẽn đường hô hấp, suy giảm hô hấp và tăng nguy cơ mắc BPTNMT (4). Nhiễm trùng đường hô hấp Nghiên cứu cho thấy những người có tiền sử mắc các bệnh viêm phổi khi còn nhỏ có nguy cơ suy giảm chức năng phổi, tăng triệu chứng ở tuổi trưởng thành, từ đó dẫn tới tăng nguy cơ mắc BPTNMT. Chế độ dinh dưỡng lúc nhỏ Việc thiếu các yếu tố vi lượng ví dụ như các vitamin A, D, E cũng có liên quan tới việc gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tuy nhiên còn chưa được chứng minh đầy đủ. Tình trạng kinh tế xã hội Nghiên cứu cho thấy, những người có tình trạng kinh tế xã hội thấp, tiếp cận môi trường sống hoặc dinh dưỡng kém dễ dẫn tới các bệnh về phổi và BPTNMT (43).
Các yếu tố liên quan đến cơ địa 1. Yếu tố gen Nhiều nghiên cứu cho thấy BPTNMT tăng lên trong những gia đình có tiền sử mắc bệnh, yếu tố nguy cơ gen được biết rõ nhất là thiếu hụt di truyền α1- antitrypsin (AAT). AAT là một protien được tổng hợp tại gan, có vai trò ức chế Elatase (là một proteinnase huyết tương). Người bệnh thiếu AAT sẽ không ức chế được Elatase gây nên tình trạng phá hủy Elatase trong nhu mô phổi cuối cùng dẫn đến BPTNMT.
Thiếu AAT sẽ gây khí phế thũng toàn tiểu thuỳ ở người trẻ tuổi, đối với những người có hút thuốc có biểu hiện sớm hơn ở 40 tuổi, trong khi biểu hiện này sẽ muộn hơn 13 - 15 năm ở những người không hút thuốc. Thang Long University Library 6 1. Tính tăng phản ứng của phế quản Đây cũng là yếu tố nguy cơ của BPTNMT, song yếu tố này chỉ thấy được ở 8 - 14% người bình thường (28). Sự phát triển của phổi Sự phát triển của phổi có liên quan đến quá trình phát triển ở bào thai, trọng lượng khi sinh và các phơi nhiễm trong thời niên thiếu.
Nếu chức năng phổi của một cá thể khi trưởng thành không đạt được mức bình thường thì những cá thể này có nguy cơ sau này dễ bị BPTNMT (18). Tuổi Tỷ lệ mắc BPTNMT cao hơn ở người già. BPTNMT thường là hậu quả sau khi phơi nhiễm với các hạt hoặc các phân tử khí độc hại.