ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc điều dƣỡng (CSĐD) là hoạt động nghề nghiệp của ngƣời điều dƣỡng, đòi hỏi ngƣời điều dƣỡng phải có kiến thức chuyên môn, kỹ năng thành thạo và đạo đức nghề nghiệp, năng lực của mỗi điều dƣỡng thể hiện qua ba nội dung trên.Tại bệnh viện, điều dƣỡng là lực lƣợng đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của ngƣời bệnh. Điều dƣỡng là những ngƣời tiếp xúc nhiều nhất với ngƣời bệnh trong suốt thời gian nằm viện, có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm và nâng cao chất lƣợng dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện. Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới, dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dƣỡng cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế [36]. Do đó muốn nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế phải quan tâm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả các dịch vụ CSĐD.
Tại Việt Nam, theo đánh giá của Bộ Y tế, nhận thức chung về vai trò và vị thế của ngƣời điều dƣỡng đã có nhiều tiến bộ nhƣng vẫn chƣa ngang tầm với sự phát triển của chuyên ngành điều dƣỡng, nhân lực thiếu về số lƣợng, yếu về chất lƣợng, năng lực thực hành, kỹ năng giao tiếp với ngƣời bệnh chƣa đáp ứng đƣợc các chuẩn năng lực nghề nghiệp, chất lƣợng CSĐD chƣa đáp ứng tốt các nhu cầu chăm sóc có chất lƣợng của ngƣời bệnh [9]. Cho đến nay, qua 7 kỳ tổ chức Hội nghị khoa học điều dƣỡng của Hội điều dƣỡng Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về công tác CSNB của điều dƣỡng. Kết quả nghiên cứu "Đánh giá hoạt động chăm sóc ngƣời bệnh của điều dƣỡng viên tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2012" của Trần Ngọc Trung cho thấy: tỷ lệ đáp ứng các nhu cầu của ngƣời bệnh còn ở các mức độ khác nhau, chỉ có 62,1% ngƣời bệnh đƣợc đáp ứng các nhu cầu về chăm sóc tinh thần [27]. Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Châu về:“Thực trạng công tác chăm sóc điều dƣỡng qua đánh giá của ngƣời bệnh nội trú và các yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2014” cho thấy điều dƣỡng làm tốt các chức năng cơ bản nhƣ theo dõi, đánh giá ngƣời bệnh chiếm 91%, công tác tiếp đón ngƣời bệnh đạt 88%, chăm sóc hỗ trợ tinh thần đạt 82,3%.
Tuy 2 nhiên, công tác chăm sóc, hỗ trợ ngƣời bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày thì có đến 58,5% đánh giá chƣa đƣợc thực hiện tốt [10]. Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn tỉnh Bình Định là Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hạng 2 có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân phía bắc tỉnh. Năm 2015 bệnh viện đã thực hiện 545,5/300 giƣờng kế hoạch đạt 181,8%. Số lƣợt khám chữa bệnh là 124544 lƣợt, số lƣợt ngƣời bệnh điều trị nội trú là 21278.
Hàng ngày bệnh nhân khám 800 -1000 lƣợt, điều trị nội trú 450-630 bệnh nhân. Bệnh viện có 5 phòng chức năng, 11 khoa lâm sàng, 06 khoa cận lâm sàng[2]. Tại bệnh viện, việc triển khai công tác CSNB đƣợc thực hiện theo: “Quy chế chăm sóc ngƣời bệnh toàn diện năm 1997” và hiện nay là: “Thông tƣ 07/2011/TT- BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế về Hƣớng dẫn công tác chăm sóc ngƣời bệnh trong bệnh viện”. Qua 18 năm hoạt động và phát triển, cho đến nay tại bệnh viện chƣa có nghiên cứu nào về công tác CSNB và những yếu tố ảnh hƣởng đến công tác CSNB của điều dƣỡng.
Vậy thực trạng công tác CSNB của điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn đạt ở mức độ nào? Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của điều dƣỡng nhƣ thế nào? Để hiểu rõ vấn đề này tôi chọn thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh giá công tác chăm sóc ngƣời bệnh của điều dƣỡng và một số yếu tố ảnh hƣởng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình Định năm 2016” nhằm có cơ sở đánh giá chất lƣợng CSNB, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện chất lƣợng công tác CSNB góp phần nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh, đổi mới phong cách, thái độ phục vụ hƣớng đến sự hài lòng của ngƣời bệnh. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá công tác chăm sóc ngƣời bệnh của điều dƣỡng viên tại các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình Định năm 2016 2. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hƣởng đến công tác chăm sóc ngƣời bệnh của điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình Định năm 2016 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về điều dƣỡng và công tác CSNB 1. Lịch sử ngành điều dƣỡng thế giới Giữa thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, bà Florence Nightingale (1820 - 1910) ngƣời Anh đƣợc thế giới tôn kính và suy tôn là ngƣời sáng lập ra ngành điều dƣỡng. Bà đã đƣa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các cơ sở y tế và sau hai năm bà đã làm giảm tỷ lệ chết của thƣơng binh do nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2%. Florence đã lập ra hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trƣờng đào tạo điều dƣỡng đầu tiên trên thế giới vào năm 1860.
Trƣờng điều dƣỡng Nightingale cùng với chƣơng trình đào tạo 1 năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dƣỡng không chỉ ở nƣớc Anh mà còn ở nhiều nƣớc trên thế giới. Để tƣởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence đã dày công xây dựng. Hội đồng điều dƣỡng thế giới đã quyết định lấy ngày 12-5 hàng năm là ngày sinh của Florence Nightingale làm ngày điều dƣỡng quốc tế. Bà đã trở thành ngƣời mẹ tinh thần của ngành điều dƣỡng thế giới[15].
Hiện nay ngành điều dƣỡng của thế giới đã đƣợc xếp là một ngành nghề riêng biệt, ngang hàng với các ngành nghề khác. Lịch sử ngành điều dƣỡng Việt Nam Thời kỳ Pháp thuộc đến thời kỳ kháng chống Mỹ cứu nƣớc, các lớp điều dƣỡng sơ học đƣợc mở nhằm đáp ứng cho nhu cầu kháng chiến. Năm 1975, kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nƣớc đƣợc thống nhất, Bộ Y tế đã chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân ở cả hai miền. Từ đó, chƣơng trình đào tạo điều dƣỡng đƣợc thống nhất chung.
Năm 1982, Bộ Y tế ban hành chức danh y tá trƣởng bệnh viện và y tá trƣởng khoa.Năm 1985, Bộ Y tế thành lập tổ nghiên cứu y tá và một số bệnh viện đã xây dựng phòng điều dƣỡng, thí điểm tách ra khỏi phòng y vụ.Ngày 14 tháng 7 năm 1990, Bộ Y tế ban hành quyết định số 570/BYT-QĐ thành lập phòng Y tá điều dƣỡng 5 trong các bệnh viện có trên 150 giƣờng bệnh. Ngày 14 tháng 3 năm 1992 Bộ trƣởng Bộ Y tế ra quyết định thành lập phòng y tá trong Vụ Điều trị của Bộ Y tế và đến năm 1996, Bộ Y tế chính thức bổ nhiệm chức vụ trƣởng phòng điều dƣỡng đầu tiên[17]. Năm 1986, khóa đào tạo đại học điều dƣỡng đầu tiên đã đƣợc Bộ Y tế tổ chức tại Đại học Y khoa Hà Nội và Đại học Y Dƣợc thành phố Hồ Chí Minh. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực đào tạo điều dƣỡng ở nƣớc ta.
Ngày 26 tháng 10 năm 1990, Hội Y tá – điều dƣỡng Việt Nam đƣợc thành lập tại Hội trƣờng Ba Đình Hà Nội, đánh dấu bƣớc trƣởng thành của nghề điều dƣỡng tại Việt Nam [17]. Những thành tựu của ngành điều dƣỡng Việt Nam hiện nay chính là sự kết tinh truyền thống và kinh nghiệm của những ngƣời đi trƣớc truyền lại cho những thế hệ điều dƣỡng hôm nay và mai sau. Điều dƣỡng chúng ta quyết phát huy truyền thống của dân tộc, của ngành điều dƣỡng Việt Nam, không ngừng học tập, rèn luyện để tiến bộ, góp phần xây dựng và phát triển ngành điều dƣỡng Việt Nam. Các định nghĩa về điều dƣỡng Theo tài liệu Quản lý điều dƣỡng của Bộ Y tế (2004) đề cập đến các định nghĩa về điều dƣỡng [6], theo đó có các định nghĩa sau : Năm 1860, Florent Nightingale định nghĩa:“Điều dƣỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trƣờng của ngƣời bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ”[6]; Năm 1960 Virginia Handerson định nghĩa: “Chức năng duy nhất của ngƣời điều dƣỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của ngƣời bệnh hoặc ngƣời khỏe, hoặc cho cái chết đƣợc thanh thản mà mỗi cá thể có thể tự thực hiện nếu họ có sức khỏe, ý chí và kiến thức.
Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt đƣợc sự độc lập càng sớm càng tốt ”[6]. Định nghĩa của Virginia Handerson đã đƣợc Hội đồng Điều dƣỡng quốc tế chấp nhận vào năm 1973 và đa số các nhà học thuyết điều dƣỡng cũng đã có sự thống nhất. Theo Handerson chức năng nghề nghiệp của ngƣời điều dƣỡng là chăm sóc và hỗ trợ ngƣời bệnh thực hiện các hoạt động hàng ngày [6]. 6 Năm 1965, Hội điều dƣỡng Mỹ đƣa ra định nghĩa: “Điều dƣỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe”[6].
Tại Việt Nam, theo từ điển tiếng việt, nhà xuất bản khoa học xã hội 1999 định nghĩa: “Y tá là ngƣời có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc ngƣời bệnh theo y lệnh bác sĩ”. Định nghĩa này chƣa phản ánh đầy đủ vị trí và vai trò của ngƣời điều dƣỡng cũng nhƣ nghề điều dƣỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hiện nay [6]. Tóm lại, điều dƣỡng là một nghề trong hệ thống y tế nhằm chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe, đáp ứng nhu cầu sức khỏe con ngƣời. Hiện nay, theo Thông tƣ số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 thông tƣ liên tịch Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã quy định mã số,tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật y[25] 1.
Các học thuyết điều dƣỡng Theo tài liệu Quản lý điều dƣỡng của Bộ Y tế (2004) đề cập đến các học thuyết điều dƣỡng[6], theo đó có các học thuyết sau : 1. Học thuyết Florence Nightingale ( 1820 – 1910) Nightingale nhìn nhận vai trò của ngƣời điều dƣỡng không chỉ đơn thuần là cho ngƣời bệnh dùng thuốc mà định hƣớng vào việc tác động tới môi trƣờng để giúp đỡ ngƣời bệnh mau chóng phục hồi [6]. Các yếu tố môi trƣờng đó là 1. Không khí trong lành 2.
Sự ấm áp của buồng bệnh 4. Sự sạch sẽ nơi giƣờng bệnh và buồng bệnh 5. Sự yên tĩnh của buồng bệnh và bệnh viện 6.