CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1. Tổng quan về y học gia đình 1. Các khái niệm về y học gia đình YHGĐ là một chuyên ngành y học cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục cho từng cá nhân và gia đình. Đây là chuyên ngành rộng, lồng ghép giữa y học lâm sàng với sinh học và khoa học hành vi [2].
BSGĐ là bác sĩ chuyên khoa YHGĐ, được đào tạo để hành nghề tại tuyến khám bệnh, chữa bệnh ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú, có nhiệm vụ chăm sóc đầu tiên và liên tục cho người bệnh cũng như người khỏe theo những nguyên tắc đặc thù [2]. Các thuật ngữ tương ứng trên thế giới gồm Family Physician hay Family Doctor thường sử dụng tại Mỹ, General Practice (GPs) thường sử dụng tại Anh, Úc, Newzealan. Nguyên tắc hoạt động của y học gia đình BSGĐ hoạt động trên nguyên tắc chăm sóc sức khỏe liên tục, toàn diện, lồng ghép, phối hợp, dự phòng, hướng tới gia đình và cộng đồng. BSGĐ xây dựng và duy trì mối quan hệ tin cậy và lâu dài với cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng [3].
Vai trò của chăm sóc sức khỏe ban đầu và y học gia đình CSSKBĐ là chiến lược y tế hướng đến mục tiêu “sức khỏe cho mọi người”. Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 đã định nghĩa: “Chăm sóc sức khỏe ban đầu là sự chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, phổ biến đến tận mọi cá nhân và gia đình trong cộng đồng, qua sự tham gia tích cực của họ với một phí tổn mà cộng đồng và quốc gia có thể đáp ứng được ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, trên tinh thần tự lực và tự quyết. Nó là một bộ phận hợp thành vừa của hệ thống y tế nhà nước – mà trong đó, nó giữ vai trò trọng tâm và là tiêu điểm chính – vừa của sự phát triển chung về kinh tế xã hội của cộng đồng. Nó là nơi tiếp xúc đầu tiên của người dân với hệ thống y tế, đưa sự chăm sóc sức khỏe đến càng gần càng tốt nơi người dân sống và lao động, trở thành yếu tố đầu tiên của một quá trình săn sóc sức khỏe lâu dài” [57].
CSSKBĐ được nhiều quốc gia hướng đến nhằm hình thành một hệ thống y tế phù hợp, đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của mô hình bệnh tật, dân số, văn 5 hóa, xã hội. Các kết quả quan sát đã cho thấy vai trò của CSBĐ ở nhiều quốc gia khác nhau. Tại Mỹ, 32% bác sĩ là bác sĩ CSSKBĐ và những vùng có số bác sĩ CSSKBĐ cao hơn có kết cuộc sức khỏe tốt hơn những vùng ít bác sĩ CSSKBĐ [28]. Tại Anh, ước tính nếu tăng 1 bác sĩ CSSKBĐ trên 10000 dân sẽ có thể giảm 6% tử vong do mọi nguyên nhân [42].
Phân tích tại Bồ Đào Nha cho thấy đóng góp quan trọng của CSSKBĐ trong thành quả tuổi thọ năm 2006 cao hơn so với 30 năm trước 9,2 năm tuổi [61]. Ngoài những kết quả tính cực liên quan đến sức khỏe và tuổi thọ, CSSKBĐ còn giúp giảm tải cho hệ thống y tế nhờ chức năng phân loại và chuyển tuyến của mình. Sự gia tăng 1 bác sĩ CSSKBĐ trên 10000 dân có thể giúp giảm 5% lượt khám ngoại trú; 5,5% lượng nhập viện nội trú; 10,9% trong truy cập phòng cấp cứu, giảm 7,2% trong phẫu thuật [27]. Một ước tính ấn tượng ở quy mô toàn cầu cho thấy hơn 100 quốc gia đã phát triển CSSKBĐ từ đó giảm mạnh chi phí và tăng khả năng tiếp cận y tế.
Trong trường hợp không có chính sách trên, khoảng 30000 trẻ tử vong mỗi ngày do không tiếp cận được với chăm sóc y tế thiết yếu [61]. Với những kết quả to lớn đạt được từ CSSKBĐ, tổ chức Y tế Thế giới đã khẳng định mạnh mẽ trong báo cáo y tế thế giới: CSSKBĐ “bây giờ hơn bao giờ hết” [61]. YHGĐ là một trong những thành phần quan trọng trọng của CSSKBĐ. Ở nhiều nước trên thế giới, BSGĐ là rất phổ biến và chiếm tỉ lệ lớn trong đội ngũ CSSKBĐ.
Khảo sát ở người trưởng thành tại Mỹ cho thấy 78% đối tượng có BSGĐ, 90% người trên 55 tuổi có BSGĐ [56]. Trong đội ngũ CSSKBĐ tại Mỹ, 32% là bác sĩ và trong đó 13% là BSGĐ [28]. Phạm vi chuyên môn của BSGĐ rất rộng với 25% chuyên môn của trợ lý bác sĩ, 17% chuyên môn nội khoa và chuyên khoa nội, 10% công việc cấp cứu, 10% công việc chỉnh hình, 3% chuyên môn nhi khoa, 3% chuyên môn phẫu thuật tổng quát, 13% các chuyên môn khác [26]. Một đánh giá ấn tượng về vai trò của YHGĐ, BSGĐ khi xét giả định YHGĐ biến mất được nêu ra.
Theo đó, trong 2298 quận không nằm trong diện thiếu thốn chăm sóc sức khỏe cá nhân sẽ có đến 58% rơi vào diện này khi không có YHGĐ [31]. Tại Úc, có đến 26000 BSGĐ, 10000 điều dưỡng, cùng hàng ngàn người cung cấp sức khỏe chuyên nghiệp khác là điểm tiếp cận đầu tiên của khách hàng trong hệ thống y tế. Có đến 80% người Úc gặp BSGĐ ít nhất 1 lần trong vòng 12 tháng [42]. Năm 2014 tại Anh, BSGĐ được 97% dân số đăng ký để chăm sóc sức khỏe.
Mỗi năm, BSGĐ tại Anh tư vấn 300 triệu ca 6 trên 63 triệu dân [5]. Những dữ liệu trên cho thấy vai trò quan trọng của BSGĐ trong CSSKBĐ. Tại Việt Nam, hệ thống Y tế được phát triển hướng tới bao phủ CSSK toàn dân dựa trên nền tảng CSSKBĐ [9]. YHGĐ là một thành phần đang được bổ sung vào hệ thống CSSK và được xem như là nhân tố quan trọng trong nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế [2].
Từ năm 2000, Bộ y tế đã chính thức công nhận chuyên ngành YHGĐ và cấp phép đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I-YHGĐ. Các hoạt động đào tạo và hoạt động của BSGĐ được tổ chức ở các trung tâm đào tạo tại thành phố lớn những năm sau đó [5]. Đến năm 2013, Bộ y tế đã đưa ra đề án “Xây dựng và phát triển mô hình phòng khám Bác sĩ gia đình giai đoạn 2013-2020” [2]. Giai đoạn đầu thực hiện đề án, các PKBSGĐ đã đóng góp một số kết quả mặc dù còn khiêm tốn.
Hồ Chí Minh, kết thúc giai đoạn 2013-2015, các PKBSGĐ đã quản lý sức khỏe 81765 bệnh nhân, sàng lọc gần 200000 lượt, khám bệnh gần 500000 lượt, phát hiện gần 250000 ca bệnh. Tại Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm 2016, hơn 67000 người được đưa vào quản lý sức khỏe, khám bệnh hơm 300000 lượt [5]. Kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016-2020 tiếp tục được phê duyệt với mục tiêu “Nhân rộng và phát triển mô hình PKBSGĐ trên phạm vi toàn quốc nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, toàn diện, liên tục cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, góp phần tăng cường chất lượng CSSKBĐ và giảm quá tải bệnh viện” [7]. Chức năng, nhiệm vụ của Bác sĩ gia đình tại Việt Nam Chức năng của BSGĐ là khám chữa bệnh, quản lý, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn diện cho cá nhân, hộ gia đình và rộng hơn nữa là xã hội [3].
Nhiệm vụ của BSGĐ bao gồm các nội dung sau: Quản lý toàn diện, liên tục sức khỏe của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Cung cấp thông tin liên quan đến sức khỏe phục vụ cho y tế theo quy định. Kiểm tra sức khỏe, sàng lọc phát hiện sớm bệnh ngay tại cộng đồng. Khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, cấp cứu trong phạm vi chuyên môn.
Tư vấn, giáo dục sức khỏe về phòng bệnh phòng tránh những nguy cơ đối với sức khỏe từ đó nâng năng lực và tính chủ động trong chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe [3]. 7 Nhiệm vụ của Phòng khám Bác sĩ gia đình tại Việt Nam PKBSGĐ thực hiện những nhiệm vụ dựa trên nguyên lý toàn diện và liên tục: Tham gia CSSKBĐ và phòng bệnh. Khám chữa bệnh đối với các bệnh thường gặp trong cộng đồng, sơ cấp cứu ban đầu, chăm sóc, kiểm tra sức khỏe, sàng lọc nhằm phát hiện sớm bệnh tật ngay tại cộng đồng. Các hoạt động có thể thực hiện tại phòng khám hoặc tại nhà bệnh nhân.
Thực hiện hồ sơ theo dõi sức khỏe cho cá nhân, gia đình, quản lý bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi. Chuyển tuyến khám và chữa bệnh là một nhiệm vụ quan trọng vì đây là cơ sở khám chữa bệnh ban đầu. BSGĐ có thể tùy theo tình hình bệnh tật để chuyển tuyến khám và điều trị phù hợp. Phục hồi chức năng và nâng cao sức khỏe.
Tư vấn sức khỏe, tham gia truyền thông, giáo dục sức khỏe làm tăng năng lực và sự chủ động của người dân trong phòng ngừa bệnh tật và nâng cao sức khỏe. Tham gia đào tạo và nghiên cứu [7]. Đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự hài lòng 1. Khái niệm cơ bản: Sự hài lòng của khách hàng: Theo Oliver, sự hài lòng là một trạng thái phản ứng của khách hàng đối với việc được đáp ứng những mong đợi thông qua sử dụng dịch vụ bao gồm cả mức độ đáp ứng trên và dưới mức mong muốn [34].
Năm 1992, Brown cho rằng hài lòng là một trạng thái trong đó những gì khách hàng cần, muốn, và mong đợi ở sản phẩm và gói dịch vụ được thoả mãn hay vượt quá sự mong đợi [41]. Zeithaml và Bitner cho rằng sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi [58]. Theo Kotler, Keller và Armstrong, sự hài lòng là trạng thái tâm lý mà khách hàng cảm nhận về một dịch vụ, doanh nghiệp khi những kỳ vọng của họ được thoả mãn hoặc là thoả mãn vượt qua sự mong đợi thông qua tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ và là mức độ của trạng thái cảm xúc bắt nguồn từ việc so sánh giữa nhận thức về sản phẩm, dịch vụ với mong đợi của khách hàng khi sử dụng dịch vụ [47, 48]. Nếu 8 sản phẩm không đạt được mong đợi thì khách hàng không hài lòng.
Khi sản phẩm vượt quá mong đợi, khách hàng hài lòng với dịch vụ [48]. Như vậy, sự hài lòng là một trạng thái đáp ứng của khách hàng khi nhu cầu của khách hàng được đáp ứng đạt mức mong muốn hoặc trên mức mong muốn. Chất lượng dịch vụ: Parasuraman, Zeithaml và Bery cho rằng CLDV và sự hài lòng là khác biệt. CLDV hay CLDV cảm nhận là kết quả của sự so sánh kỳ vọng và nhận thức về đặc tính của dịch vụ [23].