ĐẶT VẤN ĐỀ Hài lòng của khách hàng với dịch vụ khám - chữa bệnh là một chỉ số đánh giá quan trọng và được sử dụng để đo lường chất lượng trong dịch vụ y tế (1). Sự hài lòng của khách hàng hay còn gọi là người bệnh có ảnh hưởng đến hiệu quả lâm sàng, sự tuân thủ - duy trì điều trị và chất lượng cuộc sống (2). Sự hài lòng cũng quyết định việc có quay lại sử dụng dịch vụ khám – chữa bệnh hay không (3) Đánh giá hài lòng với dịch vụ khám - chữa bệnh có ý nghĩa quan trọng trong cung cấp dịch vụ và bảo đảm chất lượng, kịp thời, hiệu quả, hướng đến người bệnh. Vì vậy, hài lòng người bệnh là một chỉ số rất hiệu quả để đo lường sự thành công của đội ngũ nhân viên y tế và bệnh viện.
Tại các nước phát triển, khảo sát hài lòng người bệnh ở các bệnh viện chính thức ra mắt vào năm 1985 và dần trở thành một nhiệm vụ mang tính bắt buộc, được tiêu chuẩn hóa và áp dụng đồng bộ tại các quốc giá khác nhau (4). Có nhiều yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến hài lòng người bệnh bao gồm cơ sở vật chất, quy trình hành chính, chất lượng và đặc điểm cá nhân của người bệnh (5-7). Tại Việt Nam, quyết định 4448/QĐ-BYT do bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 03 tháng 10 năm 2017 quy định việc đo lường sự hài lòng của người bệnh đối với chất lượng phục vụ khám - chữa bệnh được yêu cầu thực hiện ở các cơ sở y tế công lập (8). Chỉ số hài lòng người bệnh (Patient Satisfaction Index - PSI) dần trở thành công cụ xếp hạng cho các bệnh viện công trên toàn quốc cũng như lồng ghép kết quả này với các biện pháp khuyến khích các nguồn tài chính y tế (8, 9).
Tuy nhiên hiện nay bộ công cụ PSI tập trung đánh giá các khía cạnh như khả năng tiếp cận dịch vụ y tế; sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh, điều trị; cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh và kết quả cung cấp dịch vụ (4) mà chưa đề cập đến năng lực chuyên môn của người thầy thuốc qua nhận định của người bệnh về việc sử dụng thành thạo thiết bị, dụng cụ khi bác sĩ trực tiếp thực hiện kỹ thuật trước sự quan sát của chính người bệnh (10). 2 Trong lĩnh vực răng hàm mặt, nhiều bộ công cụ định lượng mức độ hài lòng khác nhau như: Dental Satisfaction Questionnaire (DSQ), Dental Visit Satisfaction Scale (DVSS) và thang Sakalauskienė. Trong đó, những điểm đặc thù thuộc về yếu tố con người như chuyên môn, tính cách cá nhân của chuyên khoa Răng Hàm Mặt đã được mô tả trong bộ công cụ của Sakalauskienė. Bộ công cụ đã được đánh giá trong lĩnh vực Răng Hàm Mặt ở một số nước trên thế giới và được nhận định là phù hợp (11) nhưng chưa được nghiên cứu và áp dụng trong bối cảnh tại Việt Nam.
Khoa Phẫu thuật Hàm Mặt – Răng hàm mặt tại Bệnh viện đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh là một trong những chuyên khoa trọng điểm của bệnh viện, phấn đấu nâng cao chất lượng dịch vụ gắn liền với nguyên tắc “lấy người bệnh làm trung tâm”. Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại khoa Phẫu thuật Hàm mặt – Răng Hàm Mặt, Bệnh viện đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2020” nhằm đánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ y tế, làm cơ sở cải thiện hơn nữa chất lượng dịch vụ của đơn vị trong tương lai. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự hài lòng của người bệnh với việc sử dụng dịch vụ khám - chữa bệnh tại khoa Phẫu thuật Hàm mặt – Răng Hàm Mặt, Bệnh viện đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2020.
Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh sử dụng dịch vụ khám - chữa bệnh tại khoa Phẫu thuật Hàm mặt – Răng Hàm Mặt, Bệnh viện đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của khảo sát hài lòng người bệnh 1. Cơ sở, giấy phép hoạt động khám và chữa bệnh Theo Luật khám - chữa bệnh do Quốc hội ban hành ngày 23 tháng 11 năm 2009 (12) đã định nghĩa: - Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám - chữa bệnh.
- Giấy phép hoạt động khám - chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật này (sau đây gọi chung là giấy phép hoạt động). Hài lòng của người bệnh Việc thăm dò hài lòng khách hàng bắt đầu vào những năm 1970 khi phong trào tập trung chăm sóc người tiêu dùng gia tăng và liên quan trực tiếp đến chất lượng dịch vụ được cung cấp (13). Sự hài lòng của khách hàng là sự so sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được và những kỳ vọng ở khách hàng. Nếu lợi ích đạt được trong thực tế không như kỳ vọng thì NB sẽ thất vọng.
Còn nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì NB sẽ hài lòng. Nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của khách hàng thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi (14). Hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực y tế gọi là người bệnh (NB), đặc biệt trong chuyên ngành răng hàm mặt được đánh giá thông qua các khía cạnh: năng lực kỹ thuật của bác sĩ, khả năng tiếp cận / thuận tiện, thái độ của nhân viên y tế, chi phí và cơ sở vật chất (15, 16). Đến năm 2005 và 2015, Sakalauskienė bổ sung thêm khía cạnh: tính chuyên nghiệp và tính cách cá nhân của nhân viên y tế chuyên ngành răng hàm mặt (6, 11).
Sử dụng dịch vụ Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là mô tả quá trình giao dịch các dịch vụ của người dân nhằm mục đích phòng ngừa và chữa trị các vấn đề sức khỏe, 5 thúc đẩy duy trì sức khỏe và hạnh phúc, hoặc NB nắm được thông tin về tình trạng sức khỏe và tiên lượng bệnh của chính mình (17). Mục đích của khảo sát hài lòng người bệnh Khảo sát hài lòng người bệnh có mục đích sau (18-21): - Đánh giá chất lượng chăm sóc tổng thể. - Đo lường các tiêu chí đánh giá chất lượng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe. - Giúp xác định các khía cạnh điểm mạnh và điểm yếu.
- Hỗ trợ nâng cao chất lượng điều trị và lập kế hoạch tương lai tốt hơn. - Đo lường trải nghiệm dịch vụ y tế trước đây và kỳ vọng của NB. Ý nghĩa của việc khảo sát hài lòng người bệnh Các nghiên cứu gợi ý về mối quan hệ chặt chẽ giữa sự hài lòng của người bệnh, đặc biệt là ở nhóm thanh thiếu niên với đánh giá tình trạng sức khỏe chủ quan của họ và chất lượng cuộc sống (22). Các nghiên cứu về sự hài lòng của NB có thể đóng vai trò hữu ích để đánh giá chất lượng trong quá trình cung cấp dịch vụ cũng như chất lượng của cơ sở y tế và góp phần dự đoán về việc NB có quay trở lại hay không (23).
Một trong những phát hiện quan trọng nhất trong các nghiên cứu về đánh giá sự hài lòng là mối quan hệ tích cực giữa sự hài lòng với dịch vụ chăm sóc răng miệng và hành vi liên quan đến sức khỏe răng miệng tự báo cáo tốt hơn. Do đó, tăng sự hài lòng với chăm sóc răng miệng có thể giúp cải thiện hành vi liên quan đến sức khỏe răng miệng cũng như sức khỏe răng miệng của người dân (24). Cuối cùng, sự hài lòng của NB là rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng chăm sóc tổng thể, có thể tác động làm cải thiện các dịch vụ chăm sóc y tế nói chung và nha khoa nói chung. Sự hài lòng của NB có thể được coi là một kết quả của dịch vụ y tế bên cạnh các kết quả lâm sàng (20).
Công cụ khảo sát hài lòng của người bệnh đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh răng hàm mặt Các bộ công cụ đánh giá hài lòng của NB khám – chữa bệnh RHM bao gồm: - Bộ câu hỏi hài lòng về răng hàm mặt gồm 24 mục (Dental Satisfaction Questionnaire - DSQ) được thiết kế bởi Davies và Ware đánh giá mức độ hài lòng của NB qua 5 khía cạnh chính: tính thuận tiện, chất lượng điều trị, kiểm soát đau, giá cả và hài lòng với quá trình điều trị (25). - Thang đo mức độ hài lòng của sử dụng dịch vụ thăm khám răng hàm mặt (Dental Visit Satisfaction Scale - DVSS) gồm 10 mục được chia thành 3 khía cạnh chính: Thông tin – Giao tiếp, Thấu hiểu – Chấp nhận và Năng lực kỹ thuật (25). Hai thang đo trên khá phổ biến để đánh giá mức độ hài lòng của NB răng hàm mặt trên thế giới tuy nhiên có phần tương đối lỗi thời (thang DSQ được xây dựng năm 1981 và thang DVSS được xây dựng năm 1984). - Thang đo 22 mục để đo lường nhận thức của NB về chất lượng dịch vụ (SERVQUAL).
Mô hình này được đánh giá bằng cách so sánh giữa kì vọng và nhận thức về dịch vụ sau trải nghiệm. Mô hình đánh giá trên 5 khía cạnh: Sự tin cậy, Sự đảm bảo, Các yếu tố hữu hình, Sự đồng cảm, Sự đáp ứng (26). Mô hình này dùng trong các ngành dịch vụ khác nhau tuy nhiên chưa được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực y tế. Trong nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại BV ĐHYD TPHCM, chúng tôi sử dụng bộng công đánh giá hài lòng người RHM của Sakalauskienė phiên bản 2015.
- Bộ công cụ đánh giá hài lòng của bệnh nhân của Bệnh viện Răng hàm mặt thuộc Đại học Kaunas do Sakalauskienė và cộng sự xây dựng và phát triển. Bộ công cụ này được xây dựng trên 53 NB nhằm đánh giá các khía cạnh hài lòng. Bằng cách sử dụng phương pháp lọc nhân tố ma trận xoay, bộ câu hỏi đã xác định được các chiều kích của hài lòng ở NB ngoại trú đối với các dịch vụ Răng hàm mặt bao gồm: tính chuyên nghiệp, tính cá nhân và tổ chức phẫu thuật, thủ thuật. Độ tin cậy của bộ công cụ qua hệ số Cronbach alpha là 0,7 (11).