CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các định nghĩa, khái niệm 1. Chất lượng Theo các từ điển phổ thông, thông dụng,“chất lượng” bao gồm các yếu tố sau: (1) mức độ tốt hay xấu, (2 ) đặc tính hoặc tính năng, (3) mức độ giá trị cao hoặc sự xuất sắc và (4) tiêu chuẩn của một vật, dịch vụ được đo lường và so sánh với những thứ khác cùng loại (8). Nghiên cứu của Mosadeghrad (2014) liệt kê các đặc điểm của khái niệm chất lượng bao gồm: Giá trị, xuất sắc, phù hợp với thông số kỹ thuật, phù hợp với các yêu cầu, đáp ứng nguyện vọng của khách hàng, phù hợp để sử dụng luôn làm hài lòng khách hàng bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ có tính cập nhật mới nhất đáp ứng và vượt quá nhu cầu rõ ràng của khách hàng, của nhà cung cấp (9).
CLDV trong chăm sóc sức khỏe Theo Tổ chức y tế Thế giới năm 2006 định nghĩa: CLDV CSSK là “Quá trình đưa ra các lựa chọn chiến lược trong các hệ thống y tế”. Mặc dù áp dụng cho từng khía cạnh của CSSK, những định nghĩa này khác nhau tùy theo quan điểm và nhiệm vụ của tổ chức hoặc ngành học tương ứng (10). Viện Y học Hoa Kỳ (Institute of Medicine – IOM) năm 2013 định nghĩa CLDV trong CSSK là “mức độ mà các DVYT cung cấp cho cá nhân và cộng đồng làm tăng khả năng đạt được tình trạng sức khỏe mong muốn và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại” (11). Chất lượng CSSK là một khái niệm chủ quan, phức tạp và đa chiều.
Tác giả Mosadeghrad (2013) đã định nghĩa chất lượng CSSK là các phương pháp làm hài lòng người bệnh bằng cách cung cấp các dịch vụ CSSK hiệu quả theo những hướng dẫn và tiêu chuẩn lâm sàng mới nhất, đáp ứng nhu cầu và làm hài lòng người bệnh. Tác giả tin rằng dịch vụ CSSK chất lượng là “dịch vụ CSSK đúng cách, đúng nơi, đúng thời điểm bởi nhà cung cấp phù hợp cho đúng cá nhân với mức giá phù hợp để có được kết quả khả quan” (12). CLDV trong CSSK gồm các khía cạnh như: Tính sẵn có, khả năng tiếp cận, khả năng chi trả, khả năng chấp nhận, tính phù hợp, năng lực, tính kịp thời, sự riêng 5 tư, bảo mật, chu đáo, ân cần, đáp ứng, trách nhiệm, chính xác, đáng tin cậy, liên tục, công bằng, tiện nghi. Đảm bảo an toàn và an ninh, cải thiện chất lượng cuộc sống và sự tham gia của người bệnh cũng được coi là thuộc tính chất lượng (13).
Trong báo cáo của Viện Y khoa Hoa Kỳ năm 2001 đã xác định chất lượng trong CSSK là: An toàn, hiệu quả, người bệnh làm trung tâm, đúng thời gian, hiệu năng và công bằng (14). Theo tác giả Burke năm 2013 cho rằng “Sự hài lòng của khách hàng được sử dụng phổ biến trong việc đo lường CLDV y tế, và được xem như cách thức để đánh giá dịch vụ thông qua đo lường cảm nhận của khách hàng”. Khái niệm này đã nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà nghiên cứu bởi sự khái quát và đánh giá trên vai trò là sự nhận thức của người sử dụng dịch vụ (15). Chất lượng và sự đầy đủ của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể được đo lường dựa trên quan điểm và sự hài lòng của người bệnh và thân nhân của họ (16).
Có nhiều khái niệm về CLDV tuy nhiên nghiên cứu này sẽ sử dụng khái niệm theo tác giả Burke năm 2013 (15) vì phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi. Các chiều hướng chất lượng trong y tế Tổ chức Y tế Thế giới cũng xác định, chiều hướng chất lượng trong y tế bao gồm: An toàn; người bệnh làm trung tâm; Chăm sóc lâm sàng hiệu quả; Hiệu suất; Hướng về nhân viên; Điều hành hiệu quả (17). Các chiều hướng chất lượng trong chăm sóc y tế 6 An toàn An toàn người bệnh là một quy trình bắt buộc trong hệ thống y tế liên quan đến việc ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro, sai sót và tổn hại xảy ra cho người bệnh trong quá trình chăm sóc sức khỏe. Nền tảng của hoạt động này là ghi nhận những sự cố y khoa cũng như những sai sót có thể dẫn đến sự cố, từ đó đưa ra những giải pháp dự phòng cũng như khắc phục.
Sự an toàn của người bệnh là nền tảng để cung cấp các dịch vụ y tế thiết yếu có chất lượng. WHO cho rằng các dịch vụ y tế chất lượng trên toàn thế giới phải hiệu quả, an toàn và lấy người bệnh làm trung tâm. Để đảm bảo sự thành công của các chiến lược an toàn cho người bệnh cần có các chính sách rõ ràng, năng lực lãnh đạo, dữ liệu thúc đẩy cải tiến an toàn, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có tay nghề cao. Và sự tham gia hiệu quả của người bệnh vào việc chăm sóc sức khỏe của chính họ (18).
Người bệnh làm trung tâm Lấy người bệnh làm trung tâm là cách cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe dựa trên nguyên tắc tôn trọng và đáp ứng sở thích, nhu cầu và giá trị của từng người bệnh, đồng thời đảm bảo rằng các giá trị của người bệnh ảnh hưởng đến tất cả các quyết định lâm sàng. Cách tiếp cận này yêu cầu sự hợp tác thực sự giữa các cá nhân và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ, một mối quan hệ mà nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân thúc đẩy cả quyết định chăm sóc sức khỏe và cách đo lường kết quả (19). Chăm sóc lâm sàng hiệu quả và hiệu suất Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ngày nay, quy trình cung cấp dịch vụ bao gồm nhiều quy trình chồng chéo và việc phân phối công việc trong khám và điều trị cho một người bệnh có thể liên đới đến nhiều bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên và những người khác. Do đó thực hành lâm sàng hiệu quả liên quan đến việc trao đổi thông tin và quy trình phối hợp chặt chẽ.
Việc chăm sóc người bệnh hiệu quả liên quan đến việc cho kết quả lâm sàng tốt nhất với nguồn nhân lực và kinh tế phù hợp nhất trong khoảng thời gian nhanh nhất (18). 7 Hướng về nhân viên bao gồm các yếu tố sau: (20) Xây dựng lòng trung thành của nhân viên thông qua việc khiến họ cảm thấy quản lý quan tâm đến họ với tư cách cá nhân. Nhân viên cần phải cảm thấy rằng mình đang phát triển. Tinh thần nhân viên: Một văn hóa tổ chức khuyến khích học tập và tạo ra một lực lượng lao động tích cực, có động lực và cam kết.
Sự hài lòng của nhân viên: hài lòng về lương và lợi ích, bao gồm cả những cơ hội thăng tiến cũng như nhận thức việc mọi nỗ lực được ghi nhận Điều hành hiệu quả Điều hành hiệu quả dịch vụ nói chung và dịch vụ sức khỏe nói riêng là triết lý quản lý liên quan đến con người và quy trình làm việc tập trung vào việc gia tăng sự hài lòng khách hàng, cải thiện hiệu suất của tổ chức. Nó bao gồm cả CLDV và chất lượng trong lúc cung cấp DVYT. Giảm gánh nặng sai sót, đảm bảo sử dụng tối ưu cơ sở hạ tầng, nhận lực và quản lý chất lượng (21). Mô tả các khía cạnh về CLDV 1.
Các nghiên cứu trên Thế giới Hoạt động đánh giá CLDV tại các CSYT đã được thực hiện tại nhiều nơi trên Thế giới với nhiều hình thức nhằm mục đích liên tục CTCL, làm tăng sự hài lòng của khách hàng. Theo 2 khảo sát của Tancred T thực hiện năm 2016 (22) và của Islam F thực hiện năm 2015 (23) cho thấy tại các nước thu nhập thấp người bệnh luôn đánh giá cao về trình độ và chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế, sự sẵn có về CSVC. Nhân sự thì người bệnh đánh giá chưa cao về thời gian thăm khám. Qua nghiên cứu, ta thấy được những lợi ích và hạn chế đối với cả hai phương pháp đánh giá định lượng và định tính.
Vì vậy, việc sử dụng hỗn hợp 2 cách lượng giá định lượng và định tính sẽ có giá trị trong việc nắm bắt trải nghiệm của người mẹ về các dịch vụ CSSK bà mẹ và trẻ sơ sinh (23) (22). Tác giả Tancred T thực hiện khảo sát CLDV chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh tại quận Tandahimba, Tanzania năm 2016 nhằm so sánh CLDV chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh qua cảm nhận của người mẹ bằng phương pháp đánh giá định lượng và định tính. Đối tượng là các bà mẹ từ 13 – 49 tuổi, đã sinh con trong 2 năm trước, 8 được phỏng vấn trong một cuộc khảo sát hộ gia đình và cả người nhà của họ được thực hiện trong gần 3 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy 93% người khảo sát tin vào sự sẵn có của nhân viên y tế (NVYT) và 61% nhận thấy rằng thuốc và thiết bị cần thiết luôn cần có sẵn.
Chỉ có 60% người mẹ cho biết rằng nước uống đủ cho nhu cầu của họ, 51% trả lời là được NVYT dành thời gian thăm hỏi và để cho người mẹ được đặt câu hỏi. Các khoản chi phát sinh cao hơn ở các bệnh viện (49%) và TTYT (53%) so với tại các trạm xá (31%). Dữ liệu định tính nhấn mạnh sự thiếu tự tin của người mẹ sinh con về sự sẵn sàng của cơ sở, về chi phí và khó tiếp cận với nguồn nước, nhưng lại phản ứng khác nhau trong tương tác với NVYT: hơn 50% trong ý kiến này là có sự thiếu tôn trọng, không lịch sự. Cả hai phương pháp đánh giá đều cho thấy có mối liên quan giữa CLDV với sự sẵn sàng thấu hiểu, nhưng lại khác nhau về sự nhận thức đúng trong cách tương tác giữa người mẹ và NVYT (22).
Tại Bangladesh, tác giả Islam F sử dụng phối hợp hai phương pháp định tính và định lượng năm 2015 nhằm khám phá nhận thức của các nhà cung cấp dịch vụ CSSK về chất lượng CSSK của bà mẹ và trẻ sơ sinh. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2011 tại hai Bệnh viện quận và 12 thuộc tiểu khu Thakurgaon và Jamalpur, Bangladesh. Mười bốn cuộc thảo luận nhóm và 56 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) đã được thực hiện trên 112 người mẹ sinh con và người chăm sóc của họ trước khi được xuất viện. Kết quả khảo sát định lượng cho thấy: 85% người mẹ được hỏi hài lòng với các dịch vụ bệnh viện.
7/14 hài lòng CSYT sạch sẽ và hơn 50% hài lòng với các loại thuốc họ nhận được.