Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo tác giả John W.Boudreau: “Nguồn nhân lực (NNL) là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo sự sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức” (5). Còn theo Nick Moore: “Nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động”(6).
Theo giáo trình nguồn nhân lực của tác giả Nguyễn Tiệp: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội” (1). Trong bài viết “Nguồn nhân lực và lợi thế cạnh tranh bền vững” của tác giả Patrick M. Wright đã đưa ra khái niệm “NNL là sự kết hợp giữa những kỹ năng, kiến thức, các khả năng được đặt dưới sự kiểm soát của một tổ chức dưới dạng mối quan hệ lao động trực tiếp và sự biểu hiện của những khả năng đó dưới hình thức các hành vi của nhân viên sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức” (7). Như vậy, xem xét dưới góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Con người với tư cách là nguồn lực cơ bản của sự phát triển không chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng. Thừa kế quan điểm của các tác giả nghiên cứu về nguồn nhân lực tôi nhận định rằng nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể số lượng và chất lượng con người với vai trò khác nhau và được liên kết lại để hướng đến mục tiêu chung của một tổ chức. Khái niệm nguồn nhân lực y tế Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “ Nguồn nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe” (8). Với khái niệm trên nhân lực của một cơ sở y tế (YT) không chỉ người cung cấp dịch 5 vụ y tế mà bao gồm cả những người thực hiện các hoạt động phục vụ cho mục tiêu, nhiệm vụ của cơ sở y tế (nhà quản lý, các nhà tài trợ, cơ quan bảo hiểm y tế liên quan…) Tất cả đều tham gia vào hoạt động nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân.
Theo Phạm Trí Dũng “NNLYT được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập của cá nhân trong tương lai và lợi ích của xã hội thông qua cung cấp dịch vụ y tế. Khi nói đến NNLYT người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ y tế. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh ở kiến thức, kỹ năng và thái độ của nhân viên y tế trong việc cung cấp dịch vụ y tế” (9). Thu hút nguồn nhân lực 1.
Khái niệm thu hút nguồn nhân lực Là quá trình tìm kiếm và thu hút những người được coi là có đủ năng lực để đăng ký và dự tuyển vào làm việc trong một cơ quan, tổ chức. Như vậy có thể hiểu chính sách thu hút nguồn nhân lực là chương trình hành động do nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra, bao gồm các giải pháp cách thức để thu hút được nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ về làm việc cho tổ chức (10). Các yếu tố tác động đến thu hút nguồn nhân lực 1. Chính sách thu hút Con người trong xã hội luôn có những nhu cầu và hành động theo nhu cầu, việc thỏa mãn nhu cầu sẽ chi phối, thậm chí quyết định đến hành động của họ.
Theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (Hoa Kỳ) thì nhu cầu của con người được chia thành năm bậc từ thấp đến cao. Đó là: nhu cầu về vật chất, nhu cầu về an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu được kính trọng và nhu cầu được thể hiện bản thân (11). Những nhu cầu thấp sẽ phải được thỏa mãn trước khi xuất hiện nhu cầu ở mức cao hơn. Như vậy để thu hút được nguồn nhân lực (đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao) nhà tuyển dụng phải có những chính sách tác động đến các yếu tố thỏa mãn nhu cầu của con người và hiểu rõ những nhân tố tác động đến chính sách này sẽ bảo đảm việc ban hành chính sách hiệu quả hơn.
6 Việc thu hút và sử dụng đúng nguồn nhân lực là một yêu cầu không kém phần quan trọng. Qua nghiên cứu của tác giả Đặng Tiến Khang về “Mô tả thực trạng nhân lực và một số yếu tố liên quan đến thu hút và duy trì nhân lực tại bệnh viện Bưu Điện năm 2013” cho thấy để đánh giá tính hiệu quả của thu hút nguồn nhân lực cần có chính sách, quy trình, vị trí tuyển dụng và mức đãi ngộ phù hợp (12). Tuyển dụng nguồn nhân lực Tuyển dụng nguồn nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức (13). Có 2 nguồn ứng viên cung cấp cho tổ chức đó là nguồn ứng viên từ trong nội bộ và nguồn ứng viên từ bên ngoài.
Hình thức tuyển dụng nội bộ thường được công khai, với các tiêu chuẩn rõ ràng đối với tất cả các ứng viên từ bên trong tổ chức. Tuy nhiên khi nguồn nhân lực trong nội nộ không thể thỏa mãn được nhu cầu phát triển của tổ chức thì phải lấy thêm nhân lực từ bên ngoài, cần đưa ra các hình thức thu hút ứng viên bên ngoài như: (a) thông qua quảng cáo, (b) tuyển sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, (c) do ứng viên tự đến xin việc hoặc qua hệ thống internet (9) Như vậy tuyển dụng nhân lực được hiểu là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn và đánh giá những ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động của tổ chức. Quá trình tuyển dụng được coi là hoàn tất khi nhân viên mới có thể hòa nhập trong môi trường của tổ chức. Thương hiệu của nhà tuyển dụng Thương hiệu nhà tuyển dụng là gói các lợi ích chức năng, kinh tế và tâm lý được cung cấp bởi việc thuê mướn lao động và được xác định bởi công ty sử dụng lao động (14).
Thương hiệu nhà tuyển dụng trở lên quan trọng đối với mỗi tổ chức bởi các lý do sau: 7 Một là, sự thiếu hụt lao động có kỹ năng đang ngày càng gia tăng khiến các tổ chức khó khăn hơn trong việc tuyển dụng, thu hút người lao động có tay nghề. Các đơn vị được xem là nhà tuyển dụng hấp dẫn sẽ dễ dàng hơn trong việc tuyển dụng nhân tài Hai là, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, các đơn vị chịu áp lực về tinh giản biên chế và tăng năng suất lao động, do đó sự cần thiết phải có được đùng người đúng việc trở nên quan trọng hơn. Ba là, tuyển dụng và giữ chân nhân viên giỏi là điều cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì một lợi thế cạnh tranh. Bốn là, thương hiệu nhà tuyển dụng mạnh sẽ góp phần làm tăng danh tiếng, tuy tín cho thương hiệu tổ chức, Năm là, việc trở thành một nhà tuyển dụng hấp dẫn giúp doanh nghiệp có được lợi thế nhiều hơn trong việc thu hút ứng viên và giữ chân nhân viên.
Duy trì nguồn nhân lực 1. Khái niệm duy trì nguồn nhân lực Là nhóm chức năng tập trung đến việc ổn định, duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp (10) Duy trì nguồn nhân lực là một trong những chức năng quan trọng của quản lý nguồn nhân lực nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Chức năng duy trì nguồn nhân lực thông qua các biện pháp: khen thưởng, động viên để người lao động gắn bó với tổ chức, đồng thời tạo động lực cho họ làm việc hăng say và có tinh thần trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao. Chức năng này chú trọng đến sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực bằng cách giao cho người lao động những công việc có tính thách thức cao, sau khi lãnh đạo đơn vị đánh giá mức độ và ý nghĩa của việc hoàn thành công việc được giao phải trả lương xứng đáng với thành tích của họ đạt được.
Các yếu tố tác động đến duy trì nguồn nhân lực Yếu tố duy trì (yếu tố bên ngoài: vật chất, an toàn, và nhu cầu xã hội- nhu cầu tồn tại và quan hệ) bao gồm: Lương, thưởng, an toàn công việc, điều kiện làm việc, chính sách cơ quan, quan hệ con người. Nhóm yếu tố duy trì thấp sẽ gây ra sự 8 bất mãn của nhân viên trong công việc tại một tổ chức bất kỳ, có thể là do: Chế độ, chính sách của tổ chức đó. Sự giám sát trong công việc không thích hợp. Các điều kiện làm việc không đáp ứng mong đợi của nhân viên.
Lương bổng và các khoản thù lao không công bằng. Quan hệ với các cấp (cấp trên, cấp dưới) không đạt được sự hài lòng (15). Chính sách tiền lương Để khuyến khích những người làm việc thật sự có năng suất, chất lượng và hiệu quả thì mức lương tối thiểu phải tương ứng chỉ số giá sinh hoạt từng thời kỳ và phải tính đến sự phù hợp với từng ngành nghề, cũng như đặc thù riêng của từng khu vực (10). Giải pháp này không những tạo động lực cho người lao động mà còn giải quyết được khó khăn eo hẹp về tài chính 1.
Điều kiện làm việc Điều kiện làm việc bao gồm các yếu tố vật chất như máy móc, thiết bị, thông tin, tài liệu, phòng làm việc.các điều kiện về thời gian, không gian làm việc cũng có ý nghĩa tác động nhất định, nhất là đối với công việc mang tính nghiên cứu, sáng tạo thì cách quản lý thời gian làm việc cần linh hoạt hơn. Môi trường làm việc Là tác nhân của sự hài lòng trong công việc: Đạt kết quả mong muốn. Sự thừa nhận của tổ chức, lãnh đạo, của đồng nghiệp. Trách nhiệm.
Sự tiến bộ, thăng tiến trong nghề nghiệp. Sự tăng trưởng như mong muốn (15).