Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh viện và các quy định liên quan đến bệnh viện 1. Khái niệm bệnh viện Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị cơ sở hạ tầng để phục vụ nhân dân. Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động [4].
Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban Giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng; là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc. Bệnh viện là một tổ chức lao động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong [7]. Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường cư trú.
Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học [20]. Khái niệm về dịch vụ, dịch vụ y tế, cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội [4].
Khái niệm dịch vụ y tế Dịch vụ y tế la dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người về chăm sóc sức khỏe [4]. Cung cấp dịch vụ y tế 1. Tính sẵn có của DVYT: Tính sẵn có của dịch vụ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc tiếp cận dịch vụ của mọi người dân. Tính sẵn có được đánh giá qua tiêu chí thời gian hoạt động, các dịch vụ kỹ thuật được triển khai đầy đủ theo Quyết định số 23/2005/QĐ- BYT ngày 30/8/2005 của Bộ Y tế về việc ban hành quy định phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong KCB [20].
Các nguồn lực: + Cơ sở hạ tầng: Là một trong những yếu tố quan trọng của tất cả các cơ sở y tế. Cơ sở hạ tầng đảm bảo thì chất lượng y tế được nâng lên và sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với cơ sở y tế hơn. + Trang thiết bị: Là nhu cầu không thể thiếu đối với một cơ sở y tế. Trang thiết bị Y tế được quy định tại Quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/2/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản.
+ Thuốc chủ yếu: Thuốc cung ứng thường đi kèm với dịch vụ KCB đó là một nhu cầu tất yếu. Bộ Y tế ban hành Danh mục thuốc chủ yếu cứ 3 - 5 năm một lần dựa trên tiêu chuẩn phù hợp với mô hình bệnh tật, tình hình kinh tế xã hội cũng như các tiến bộ về công nghệ trong sản xuất dược. Hiện tại danh mục thuốc chủ yếu được quy định tại Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01/2/2008 của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB. + Nhân lực y tế: Nhìn chung nhân lực y tế còn thiếu về số lượng, cơ cấu và yếu về chuyên môn.
Căn cứ vào nhiệm vụ và nhu cầu về CSSK nhân dân, định mức biên chế được quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05 tháng 6 năm 2007 của liên Bộ Nội vụ - Bộ Y tế, hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước [30]. Tiếp cận dịch vụ y tế Là khả năng mà người sử dụng các dịch vụ sức khỏe cần, có thể được đáp ứng tại nơi cung cấp. Mục đích của dịch vụ y tế là đến với mọi người, cộng đồng, nhằm thỏa mãn nhu cầu về sức khỏe cho con người và cộng đồng. 6 Tiếp cận dịch vụ y tế phụ thuộc vào bốn nhóm yếu tố sau: + Khoảng cách: là khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế + Nhóm yếu tố về kinh tế + Nhóm yếu tố về dịch vụ y tế + Nhóm yếu tố về văn hóa [4], [20].
Sử dụng dịch vụ y tế Là các dịch vụ khám, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng được cung ứng cho người dân theo nhu cầu và mức độ bệnh của người dân khi ốm đau. Việc sử dụng dịch vụ KCB của người dân không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, giá thành, mức độ bệnh và khả năng tiếp cận của người dân [4]. DVYT là loại hàng hóa mà người sử dụng thường không thể hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế). Cụ thể khi người bệnh có nhu cầu KCB việc điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định.
Các loại hàng hóa khác không phải là sức khỏe, người mua có thể có nhiều giải pháp lựa chọn thậm chí tạm thời không nếu chưa có khả năng tài chính [14]. Khái niệm, vai trò và tầm quan trọng của trang thiết bị y tế 1. Khái niệm về trang thiết bị Trang thiết bị y tế bao gồm các loại máy, thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân [20], [21]. Theo Ủy ban tư vấn về tiêu chuẩn đo lường chất lượng ASEAN/nhóm công tác về sản phẩm trang thiết bị y tế (ACCSQ – MDPWG): TTBYT là những dụng cụ, bộ dụng cụ, thiết bị máy móc, vật dụng, mô cấy, thuốc thử trong phòng thí nghiệm, phần mềm, nguyên vật liệu hay các vật phẩm tương tự hoặc có liên quan khác được dùng trong Ngành Y tế [26].
Vai trò và tầm quan trọng của trang thiết bị y tế Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự quan tâm đầu tư của Đảng và Chính phủ cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe 7 nhân dân, tình trạng sức khỏe người dân Việt Nam đã có những cải thiện rõ rệt, thể hiện ở các chỉ tiêu sức khỏe cơ bản như: tuổi thọ trung bình, tỷ suất chết trẻ em, tỷ suất chết mẹ, suy dinh dưỡng… Ngành Y tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, từ việc đầu tư, ứng dụng các trang thiết bị y tế, công nghệ kỹ thuật cao “ đã thành công trong một số lĩnh vực với trình độ ngang tầm với các nước trong khu vực và một số nước tiên tiến, tiết kiệm cho xã hội hàng trăm tỷ đồng/năm như: phẫu thuật nội soi, kỹ thuật can thiệp nội mạch, ghép tạng, kỹ thuật y học hạt nhân, ứng dụng sóng siêu cao tần, laser, kỹ thuật bơm bóng đối xung động mạch chủ, siêu lọc máu, tuần hoàn ngoài cơ thể, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, nuôi cấy tế bào gốc sinh tinh để điều trị vô sinh…”. Trong đó có vai trò, đóng góp tích cực của TTBYT với chức năng là một trong ba yếu tố quan trọng đó là Thầy thuốc – thuốc – TTBYT, quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân; hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh. Tại Diễn đàn toàn cầu lần thứ nhất về TTBYT (First Golbal Forum on Medical Devices) do WHO tổ chức từ 09 – 11/9/2010 tại Bangkok, Thái Lan cũng đã nhấn mạnh lại “Ngày nay, có nhiều chủng loại TTBYT khác nhau lưu hành trên thị trường. Chúng bao gồm từ các thiết bị chẩn đoán và điều trị có giá trị lớn, công nghệ cao như máy gia tốc tuyến tính giúp điều trị các bệnh ung thư cho đến các ống nghe khám bệnh và các trang thiết bị khác hỗ trợ bác sỹ, nhân viên y tế thực hiện các công việc chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân hàng ngày.
TTBYT còn bao gồm cả các thiết bị trợ giúp cải thiện cuộc sống hàng triệu người dân như: xe đẩy, máy trợ thính, kính thuốc, máy điều hòa nhịp tim và các thiết bị cấy ghép…”. Ngoài việc quan tâm đến tính an toàn, sáng tạo; tăng cường khả năng tiếp cận đến các TTBYT chất lượng, tiên tiến một cách có hiệu quả, diễn đàn rất quan tâm và nhấn mạnh đến tính đặc thù của TTBYT và công tác đào tạo, hướng dẫn sử dụng cũng như sửa chữa, bảo dưỡng đảm bảo TTBYT hoạt động hiệu quả [23]. Chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh 1. Chẩn đoán hình ảnh Chẩn đoán hình ảnh (Diagnostic - imaging) hay điện quang (Radiology) là một chuyên ngành dùng các phương pháp tạo hình ảnh khác nhau để chẩn đoán bệnh bao gồm: X - quang chẩn đoán, siêu âm chẩn đoán, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và còn có X - quang mạch máu và can thiệp (Angiography and inter- ventional radiology) [9].
Chẩn đoán hình ảnh là một ngành ứng dụng khoa học kỹ thuật sử dụng tia X, sóng siêu âm…để thể hiện cấu trúc cơ thể con người bằng hình ảnh theo quy ước nhằm cung cấp những thông tin lâm sàng cho bác sỹ. Thông qua các kết quả hình ảnh này, bác sỹ sẽ đưa ra chẩn đoán bệnh chính xác [8]. Sự phát triển của ngành chẩn đoán hình ảnh X - quang là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh đầu tiên được ứng dụng từ những năm đầu của thế kỷ XX, ứng dụng tia X do nhà vật lý học người Đức Roentgen khám phá vào năm 1895 và được trao giải Nobel Vật lý vào năm 1901. Kỹ thuật này từ khi ra đời, đã thống trị ngành chẩn đoán hình ảnh trong một thời gian dài hơn nửa thế kỷ và vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán cho đến ngày nay.
Vì vậy mà trước đây, ngành chẩn đoán hình ảnh có tên gọi là ngành X - quang.