ĐẶT VẤN ĐỀ Nhân lực y tế (NLYT) có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi cơ sở y tế. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) “Nhân lực y tế bao gồm những ngƣời tham gia vào các hoạt động chính là nâng cao sức khỏe”. Theo đó nhân lực y tế chi phối tất cả các nguồn lực khác và nó quyết định đến chất lƣợng khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế [30]. Hiện nay trên thế giới nguồn NLYT đang có một sự thiếu hụt nghiêm trọng, theo ƣớc tính của WHO có 57/192 quốc gia thiếu hụt nhân viên y tế.
Cần phải có thêm 4,3 triệu nhân viên y tế (NVYT), trong đó có 2,4 triệu bác sĩ, điều dƣỡng, nữ hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về y tế. Ngoài nguyên nhân do thiếu chuẩn bị đầu vào nguồn nhân lực còn có những nguyên nhân khác nhƣ di cƣ, thay đổi nghề nghiệp, nghỉ hƣu sớm do sức khỏe và sự an toàn [30]. Việt Nam cũng đang đƣơng đầu với nhiều vấn đề về nhân lực y tế, tình trạng thiếu hụt cả về chất lƣợng và số lƣợng; sự phân bố nhân lực không đồng đều giữa các vùng miền, các tuyến trong một địa phƣơng; nguồn nhân lực y tế đang có sự dịch chuyển một chiều theo hƣớng từ tuyến dƣới lên tuyến trên, từ nông thôn ra thành thị. Hơn nữa hệ thống y tế tƣ nhân phát triển cũng thu hút một lực lƣợng nhân lực khá lớn chuyển dịch từ khu vực công sang khu vực tƣ.
Bên cạnh đó nhu cầu nhân lực y tế ngày càng tăng do phát triển dân số, phát triển kinh tế, mở rộng bảo hiểm y tế và phát triển hệ thống các cơ sở y tế địa phƣơng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe nói chung, khám chữa bệnh nói riêng của ngƣời dân đang ngày càng cao [6]. Nguồn nhân lực (NNL) y tế tại Đak lak hiện nay cũng không ngoại lệ. Cơ cấu nguồn lực y tế theo tuyến của tỉnh phân bổ chƣa hợp lý, NNL tập trung chủ yếu ở các cơ sở y tế tuyến tỉnh, huyện – nơi có điều kiện kinh tế, xã hội và môi trƣờng làm việc thuận lợi. Đối với các huyện khó khăn thì nguồn nhân lực y tế rất hạn hẹp.
Về chất lƣợng NNL tại Đăk Lăk hiện nay đã đƣợc nâng cao nhƣng số lƣợng nhân viên y tế có trình độ cao, chuyên sâu không nhiều [16]. Bệnh viện đa khoa huyện Lăk là Bệnh viện hạng III, quy mô giƣờng bệnh 120 giƣờng; thực kê là 123 giƣờng. Từ năm 2016 - 2018, đơn vị đƣợc Sở Y tế tỉnh Đăk Lăk giao chỉ tiêu biên chế là 94 ngƣời, số nhân lực hiện có 86 ngƣời, với số 2 quy mô giƣờng bệnh 120 giƣờng thì số lƣợng biên chế của bệnh viện phải có từ 132 - 144 biên chế theo TTLT 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải (công suất sử dụng giƣờng bệnh 118%), thiếu nhân lực trầm trọng; cơ cấu nhân lực chƣa phù hợp giữa các chuyên khoa, giữa tỷ lệ bác sĩ, điều dƣỡng, kỹ thuật viên; hiện tại chƣa có những chính sách cụ thể để phát triển cũng nhƣ thu hút nhân lực chất lƣợng tại đơn vị [16].
Tất cả những khó khăn trên đang đặt ra những thách thức cần giải quyết; đòi hỏi Ban Giám đốc, phòng chức năng của bệnh viện cần phải có những phân tích, đánh giá, nghiên cứu tìm ra các giải pháp khả thi để duy trì và phát triển nguồn nhân lực cho bệnh viện nhằm đáp ứng sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trong những năm tới là vấn đề cần thiết. Chính vì lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng nguồn nhân lực y tế và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút và duy trì nguồn nhân lực tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lăk năm 2019”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực y tế của Bệnh viện Đa khoa huyện Lăk giai đoạn 2016-2019.
Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến thu hút và duy trì nguồn nhân lực tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lăk năm 2019. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, nội dung liên quan đến thu hút và duy trì nguồn nhân lực 1. Khái niệm nhân lực y tế Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Nhân lực y tế là những người mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe; NVYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên, những người quản lý và nhân viên khác: kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý [30].
Theo đó nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và các nhân viên khác: nhân viên cấp dƣỡng, hộ lý, lái xe, kế toán…Họ góp phần quan trọng trong việc thực hiện hầu hết chức năng hệ thống y tế. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, nhân lực y tế bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế trong biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dƣợc và tất cả những ngƣời tham gia vào hoạt động quản lý và cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tƣ nhân, các cộng tác viên y tế, lƣơng y và ngƣời đỡ đẻ). Tất cả những ngƣời thuộc nhân lực y tế đã nêu trên đều phải đƣợc đề cập đến khi xây dựng và thực hiện các kế hoạch đào tạo, sử dụng, quản lý và phát triển nhân lực y tế. Khái niệm nguồn nhân lực y tế Theo Trần Xuân Cầu và cộng sự, NNL là nguồn lực con ngƣời.
Nguồn lực con ngƣời đƣợc xem xét 2 khía cạnh: (1) Với ý nghĩa là nguồn gốc, là noi phát sinh ra nguồn lực: Nguồn lực nằm ngay trong bản thân con ngƣời; (2) Với tƣ cách là một nguồn lực của quá trình phát triển: NNL là nguồn lực con ngƣời có khả năng sang tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại thời điểm nhất định [22]. Trong bệnh viện nguồn nhân lực bác sĩ, điều dƣỡng chiếm phần đa số và đóng vai trò then chốt, quyết định cho sự phát triển bệnh viện; số lƣợng bác sĩ, điều dƣỡng đảm bảo sẽ thuận lợi trong việc đào tạo, nâng cao chất lƣợng chuyên môn, từ 5 đó nâng cao hiệu quả công việc và góp phần thúc đẩy bệnh viện phát triển bền vững. Tầm quan trọng của nguồn nhân lực y tế Con ngƣời là yếu tố không thể thiếu trong quá trình hoạt động của tổ chức: Một bộ máy muốn hoạt động cần có sự tham gia của con ngƣời, một tổ chức không thể chỉ có một cá nhân là ngƣời đứng đầu, có lãnh đạo thì phải có nhân viên. Một bộ máy muốn hoạt động đạt hiệu quả cao cần có sự phối kết hợp giữa mọi ngƣời trong tổ chức cùng thực hiện mục tiêu chung mang lại lợi ích cho cả một tập thể Con ngƣời là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội: Trong xã hội con ngƣời muốn tồn tại cần phải lao động để tạo ra của cải vật chất.
Con ngƣời cũng có những nhu cầu nhất định về mặt tình thần. Muốn đạt đƣợc những nhu cầu ấy con ngƣời cần tự mình làm việc sản xuất ra của cải vật chất. Về NNL y tế cũng vậy, là một phần quan trọng của hệ thống y tế là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả quyết định toàn bộ số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng các hoạt động y tế. Phát triển nguồn nhân lực cho y tế là một trong những ƣu tiên trong chính sách y tế mà nhà nƣớc phải đầu tƣ và có trách nhiệm chính.
Theo WHO: “Mục tiêu của phát triển nhân lực y tế là có một đội ngũ cán bộ phù hợp, có năng lực thích hợp cho những vị trí phù hợp để thực hiện những công việc phù hợp, và nhờ vậy có thể nhanh chóng vƣợt qua các khủng hoảng, giải quyết đƣợc những bất cập hiện tại và đón đầu đƣợc tƣơng lai” [30]. Các cơ sở y tế, các nhà quản lý y tế nếu không chú ý đến quản lý và phát triển nhân lực đúng mức sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ của cơ sở mình, vì nhiệm vụ quản lý nhân lực cần đƣợc mọi cán bộ đực biệt là cán bộ quản lý có nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức [25]. Quản lý, thu hút và duy trì nguồn nhân lực 1. Quản lý nguồn nhân lực y tế Quản lý nguồn nhân lực là áp dụng các chế độ chính sách nhằm sử dụng nhân lực một cách hiệu quả trong việc bố trí và phân công công việc, để nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế [8], [25].
6 Quản lý NLYT là một yếu tố quan trọng quyết định chất lƣợng khám chữa bệnh của mỗi cơ sở y tế. Khi có một nhà quản lý tốt sẽ tạo ra đƣợc đội ngũ nhân lực tốt, từ đó sẽ đạt đƣợc các mục tiêu mà các cơ sở y tế đề ra. Từ đó tạo đƣợc thế mạnh và uy tín cao cho các cơ sở y tế đối với nhân dân [8], [25]. Trong sự phát triển của y tế, thay đổi chế độ hoạt động của bệnh viện sang cơ chế tự thu, tự chi đòi hỏi các nhà quản lý phải bố trí, sử dụng nhân lực đúng ngƣời đúng việc, phải có chính sách học tập nâng cao trình độ hợp lý và kịp thời để có đủ kỹ năng thực hiện đƣợc các loại trang thiết bị hiện đại, nâng cao chất lƣợng phục vụ và chăm sóc bệnh nhân [25].
Để thực hiện tốt các chính sách quản lý nguồn nhân lực cần phải thực hiện đúng theo các chức năng: (1) thu hút nguồn nhân lực; (2) duy trì nguồn nhân lực; (3) đào tạo và phát triển. Các sắp xếp và bố trí nhân lực trong bệnh viện Tính toán và sắp xếp nhân lực hợp lý cho từng khoa trong bệnh viện (chuyên môn, đào tạo, quản lý,…) là công việc phức tạp. Do vậy ngƣời quản lý bệnh viện cần nắm chắc những yêu cầu ở khu vực, khoa phòng, công việc trực tiếp, gián tiếp phục vụ ngƣời bệnh. Mọi công việc cần thiết để vận hành bệnh viện trong điều kiện bình thƣờng.
Nhiều nƣớc đã có nhiều bệnh viện đƣa ra những phƣơng pháp tính toán nhân lực khác nhau.