ĐẶT VẤN ĐỀ Nhân lực y tế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế để nâng cao chất lƣợng dịch vụ và hƣớng tới các mục tiêu Thiên niên kỷ về sức khỏe, là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nhân lực y tế mang tính quyết định sự phát triển và ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng trong các hoạt động của mỗi Bệnh viện. Trên Thế giới nguồn nhân lực y tế đang thiếu hụt nghiêm trọng, theo ƣớc tính của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) có 57/192 quốc gia thiếu hụt nhân viên y tế. Cần phải có thêm 4,3 triệu nhân viên y tế, trong đó có 2,4 triệu bác sỹ, điều dƣỡng, hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về y tế [42].
Việt Nam hiện nay cũng đang phải đối mặt với những vấn đề về nhân lực y tế, tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế chất lƣợng cao đang tồn tại hầu hết khắp các địa phƣơng trong cả nƣớc. Bên cạnh đó còn có sự mất cân đối về nhân lực y tế giữa các vùng miền thể hiện ở: sự trênh lệch về số lƣợng, chất lƣợng cán bộ y tế, những cán bộ có trình độ chuyên môn cao nhất là bác sĩ, dƣợc sĩ đại học thƣờng tập chung tại các thành phố lớn. Cán bộ y tế ở tuyến y tế cơ sở vừa thiếu về số lƣợng, vừa hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt Bệnh viện chuyên khoa hầu hết các địa phƣơng trong đang đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng, nhất là các tỉnh miền núi kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
Hòa Bình là tỉnh miền núi cửa ngõ vùng Tây Bắc nối Hà Nội và vùng Tây Bắc, bao gồm 10 huyện và 01 thành phố với 210 xã, phƣờng, thị trấn [4]. Dân số trên 80 vạn ngƣời, ngƣời dân tộc thiểu số chiếm trên 72% với 6 dân tộc chủ yếu (Mƣờng, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông) trong đó dân tộc Mƣờng chiếm trên 63% [4]. Ngành Y tế Hòa Bình hiện có 2.907 công chức, viên chức, ngƣời lao động, trong đó có 710 bác sỹ, 46 dƣợc sỹ đại học, đạt tỷ lệ 8,1 bác sĩ/vạn dân; với 2.090 giƣờng bệnh đạt tỷ lệ 19,7 giƣờng/vạn dân [4]. Ngành Y tế Hòa Bình hiện cũng đang phải đối mặt với những khó khăn về nhân lực y tế: Đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu về số lƣợng, đặc biệt là thiếu bác sỹ tại một số Bệnh viện chuyên khoa; Trong đó vấn đề tồn tại là một số ít nhân viên y tế (NVYT) không hài lòng với công việc, 2 thiếu động lực làm việc dẫn đến chất lƣợng và hiệu quả công việc không cao, đã và đang làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng khám chữa bệnh của các Bệnh viện [4].
Bệnh viện Nội tiết Hòa Bình đƣợc thành lập năm 2009, có quy mô 40 giƣờng bệnh nhƣng thực kê 70 giƣờng. Công suất sử dụng giƣờng bệnh hàng năm luôn đạt trên 100%. Bệnh viện hiện đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về nhân lực y tế, tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế đặc biệt là bác sỹ và dƣợc sỹ. Theo báo cáo nhân sự Bệnh viện Nội tiết Hòa Bình, hiện nay có 68 cán bộ, viên chức; trong đó có 13 bác sỹ, 02 dƣợc sỹ đại học, từ năm 2014 đến nay Bệnh bệnh tuyển mới đƣợc 01 bác sỹ, 01 thạc sỹ dƣợc, 01 Điều dƣỡng đại học và 02 bác sỹ nghỉ hƣu [1],[2].
Câu hỏi đặt ra là trong tình trạng cạnh tranh khốc liệt giữa bệnh viện công và bệnh viện tƣ, sự chuyển dịch mô hình bệnh tật, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân này càng tăng, áp lực công việc nhiều liệu nhân viên y tế có thực sự hài lòng với công việc của mình và các yếu tố nào ảnh hƣởng đến sự hài lòng với công việc của họ? lãnh đạo bệnh viện cần làm gì để tăng sự hài lòng với nhân viên y tế, tăng cƣờng chất lƣợng khám chữa bệnh tại bệnh viện, tăng năng lực cạnh tranh với các bệnh viện khác trong khu vực? Đã có nhiều nghiên cứu đánh gái sự hài lòng của nhân viên y tế với công việc nhƣng đến thời điểm hiện tại chƣa có một nghiên cứu nào đƣợc thực hiện tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Hoà Bình. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Hòa Bình năm 2018”. nhằm cung cấp những thông tin giúp lãnh đạo bệnh viện có những biện pháp khuyến khích, tăng cƣờng sự hài lòng của nhân viên y tế, nâng cao chất lƣợng phục vụ ngƣời bệnh. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Hòa Bình năm 2018. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Hòa Bình năm 2018. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái nhiệm 1.
Sự hài lòng đối với công việc Khái niệm về sự hài lòng về công việc có nhiều cách định nghĩa khác nhau từ các nhà nghiên cứu khác nhau. Theo Weiss (1967) định nghĩa rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc đƣợc thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của ngƣời lao động trong công việc, từ sự đánh giá kết quả về một công việc, một cảm xúc phản ứng lại công việc của họ. Weiss còn lập luận rằng sự hài lòng đối với công việc là một thái độ nhƣng cần phân biệt rõ ràng đối tƣợng của nhận thức đó ảnh hƣởng cảm xúc, niềm tin và hành vi. Định nghĩa này chỉ rằng chúng ta hình thành thái độ, quan điểm đối với công việc bằng cách xem cảm xúc, niềm tin và hành vi [5].
Spector (1997) cho rằng sự hài lòng công việc đơn giản là sự yêu thích công việc, các khía cạnh công việc và xem sự hài lòng công việc nhƣ một biến hành vi. Hài lòng công việc cũng đƣợc xem nhƣ việc hài lòng với các khía cạnh cụ thể hoặc hài lòng chung với công việc. Sự hài lòng đối với công việc còn tuỳ thuộc vào loại công việc, điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán văn hoá của từng vùng miền khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về vấn đề này. Một số nhà nghiên cứu lý luận cho rằng có thể đạt đƣợc một mức độ hài lòng với công việc chỉ với một vấn đề.
Một số khác gợi ý chúng ta có thể có những cảm xúc tiêu cực về một khía cạnh nào đó của công việc (nhƣ tiền lƣơng) nhƣng cảm xúc tích cực về những mặt khác (nhƣ đồng nghiệp). Sự hài lòng với công việc cần đƣợc xem xét ở cả hai mặt nguyên nhân và ảnh hƣởng của các thay đổi về tổ chức [5]. 5 Định nghĩa của Trƣờng Đại học Oxford về hài lòng đối với công việc là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con ngƣời trải qua khi thực hiện một công việc. Thuật ngữ hài lòng với công việc và động cơ (Motivation) làm việc thƣờng đƣợc dùng thay cho nhau, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt.
Hài lòng đối với công việc là đáp ứng cảm xúc của một ngƣời đối với tình trạng công việc, trái lại động cơ làm việc là động lực theo đuổi và thỏa mãn nhu cầu [27]. Các công trình nghiên cứu về động cơ làm việc đều rút ra cùng một kết luận rằng: Con ngƣời làm việc tốt nhất khi chính bản thân họ đƣợc thôi thúc làm việc tốt. Động cơ là cách hiểu ngắn gọn của cụm từ "hành động có động cơ", có nghĩa là biểu hiện của sự phấn đấu có mục đích, việc theo đuổi một mục tiêu đáng giá nào đó.Các nhà quản lý trong thời đại ngày nay phải hiểu rằng trách nhiệm cơ bản nhất của họ là giúp cho nhân viên của mình làm việc với hiệu quả cao nhất. Điều này có nghĩa là phải khởi tạo và duy trì không khí làm việc tốt và tạo điều kiện thuận lợi để ngƣời lao động có thể phát huy hết khả năng của mình [30].
Trong lĩnh vực y tế, động lực chủ yếu để làm việc tốt là những giá trị tinh thần và đạo đức của ngƣời thầy thuốc, đồng thời là môi trƣờng làm việc tốt của cơ sở y tế trong đó sự đãi ngộ về vật chất cần đƣợc quan tâm. Chế độ tiền lƣơng và phụ cấp cho cán bộ nói chung và cán bộ y tế nói riêng thƣờng xuyên đƣợc cải tiến góp phần tăng cƣờng chất lƣợng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Những lý thuyết về động viên khuyến khích ngƣời lao động nhằm đem đến sự hài lòng trong công việc, tạo động lực cho nhân viên làm việc và do đó làm tăng thành quả lao động cũng nhƣ lòng trung thành với tổ chức [12]. Nhƣ vậy, khi ngƣời lao động hài lòng với công việc thì họ sẽ có động lực làm việc, động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con ngƣời.
Khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì động lực của mỗi con ngƣời khác nhau nên nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau để đạt đƣợc mục tiêu trong quản lý. Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế Những nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng sự hài lòng đối với công việc của NVYT sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn lực và nâng cao chất lƣợng các dịch 6 vụ tại các cở sở y tế [13], đặc biệt trong bối cảnh hiện nay đang có sự thiếu hụt nghiêm trọng về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng nguồn lực y tế, nhất là y tế tuyến cơ sở. Một mô hình tốt về sự hài lòng đối với công việc của NVYT sẽ giúp cho cá nhân và cơ quan nơi họ công tác hiểu và cải thiện tình trạng ở đó, từ đó sẽ thúc đẩy các cá nhân trong tổ chức nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cá nhân và tổ chức [13].
Lợi ích của của sự hài lòng đối với công việc Sự hài lòng thúc đẩy động lực làm việc của các cá nhân trong tổ chức, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cá nhân và tổ chức. Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụng hợp lý nguồn lao động, khai thác hiệu quả nguồn lực con ngƣời nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.