ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế kinh tế tri thức và toàn cầu hóa hiện nay, nhân lực ngành Y tế cần đáp ứng nhu cầu cả về chất lượng và số lượng, trước hết là để phục vụ nhu cầu của người dân, sau là giúp rút ngắn khoảng cách tụt hậu với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nguồn nhân lực là thành tựu cơ bản cho mọi thành tựu y tế, quyết định toàn bộ số lượng cũng như chất lượng các hoạt động dịch vụ và chăm sóc sức khỏe [8]. Khi nói đến nguồn nhân lực y tế, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ y tế, một đơn vị dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên vật tư phong phú, hệ thống trang thiết bị hiện đại cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không biết hoặc quản lý kém nguồn tài nguyên con người. Sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ trong những năm gần đây đã tạo điều kiện cho người lao động nói chung, nhân lực y tế nói riêng có nhiều cơ hội tìm kiếm được công việc tốt, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi người đồng thời với các nguyên nhân khách quan khác đã làm mất cân bằng về nhân lực giữa các cơ sở y tế khác nhau [16].
Trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, nghị quyết, kết luận về xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp. Do đó Đảng ta đã xác định việc tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là cần thiết và hoàn thiện các quy định của pháp luật về tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập theo từng ngành, lĩnh vực [38].
Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để việc sát nhập không chỉ là hình thức, không chỉ về năng lực, chuyên môn của từng vị trí mà còn là sự đồng thuận của tập thể. Việc bố trí, sắp xếp các vị trí quản lý và tạo sự cân bằng để bộ máy y tế tuyến huyện vận hành ổn định, hiệu quả hơn là mục tiêu của việc sáp nhập 2 Thông Nông là một vùng cao biên giới nằm ở phía tây bắc của tỉnh Cao Bằng, là một trong những 05 huyện nghèo của tỉnh. Hệ thống y tế của huyện có Bệnh viện đa khoa, Trung tâm dân số KHHGĐ, TTYT và các Trạm y tế xã. Trong những năm gần đây nhân lực y tế của TTYT luôn thiếu về số lượng so với chỉ tiêu giao, nhất là đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học, điều dưỡng, kỹ thuật viên y, dược sĩ.
Thực hiện theo lộ trình của Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh Cao Bằng đã xây dựng đề án sáp nhập và chính thức được UBND tỉnh phê duyệt thành lập Trung tâm ICD và TTYT các huyện nên ngày 04/3/2019 BVĐK huyện Thông Nông chính thức được công bố sáp nhập với TTYT, Trung tâm DSKHHGĐ và đổi tên thành Trung tâm y tế huyện Thông Nông, việc bố sắp xếp nhân lực và tổ chức bộ máy được thực hiện theo đề án của Tỉnh ủy và đề án của Sở Y tế Cao Bằng, trên cơ sở thông tư 37/TT- BYT, ngày 25/10/2016 do đó số lượng nhân lực sau sáp nhập được tăng lên và thành lập thêm nhiều khoa phòng, nhận thấy đây là một cơ hội có thêm nguồn nhân lực dồi dào và cũng là thách thức trong bố trí sắp xếp nhân lực, cơ cấu tổ chức bộ máy. Vậy thực trạng nguồn nhân lực sau khi sáp nhập như thế nào ? có thuận lợi và khó khăn gì trong bố trí sắp xếp nhân lực hay không ? để nắm rõ về nguồn nhân lực sau khi sáp nhập và xác định những khó khăn, thuận lợi khi tiến hành bố trí nhân lực trong việc triển khai sáp nhập các đơn vị y tế tuyến huyện, học viên tiến hành nghiên cứu "Thực trạng nguồn nhân lực y tế và một số thuận lợi, khó khăn trong bố trí nhân lực tại Trung tâm Y tế huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng năm 2019" là một việc làm cần thiết nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý nắm rõ về thực trạng nguồn nhân lực, xác định những thuận lợi, khó khăn trong bố trí nhân lực, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm ổn định nguồn nhân lực y tế sau khi sáp nhập 3 đơn vị y tế huyện nhà. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực y tế tại Trung tâm y tế huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015-2019.
Phân tích một số thuận lợi, khó khăn trong bố trí nhân lực tại Trung tâm Y tế huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nhân lực là tổng hợp toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực con người đã vận dụng trong quá trình lao động sản xuất, vì vậy: Nhân lực là sức lực con người nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động [40]. Theo WHO, nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích nhằm nâng cao sức khỏe của người dân. Nói chính xác, theo nghĩa này thì người mẹ chăm sóc con ốm và những người tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong nguồn nhân lực y tế.
Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Tuy nhiên, dữ liệu có thể về số nhân viên y tế chủ yếu giới hạn trong những người tham gia vào các hoạt động được trả lương [16]. Theo định nghĩ của WHO: ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là " Nhân lực y tế" sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y) các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vàp các hoạt động quản lý, cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn). Khi xây dựng và thực hiện các kế hoạch đào tạo, sử dụng, quản lý và phát huy nhân lực y tế, cần đề cập tất cả mọi người thuộc" nhân lực y tế" theo định nghĩa nêu trên [52].
5 Cụ thể hơn, WHO định nghĩa nhân viên y tế là những người mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe. Nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý [53]. Có thể nói, khái niệm nguồn nhân lực (NNL) hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất.
Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số khái niệm sau: - NNL là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là ai. Theo ý kiến này, nói đến NNL là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh. - Có ý kiến cho rằng, NNL là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
- Có quan niệm khi đề cập đến NNL chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh trình độ chuyên môn và kỹ năng của NNL, ít đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý, tinh thần.NNL bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức. Nó được coi là nguồn tài nguyên quý báu nhất của tổ chức. Bởi vì, vốn có dồi dào, máy móc thiết bị kỹ thuật tân tiến hiện đại đến mấy nhưng không có sự tác động của bàn tay và trí óc của con người thì các nguồn lực đó cũng không thể phát huy được tác dụng. Trong quá trình hoạt động của mình mọi tổ chức đều biết tận dụng một cách tối đa khai thác tiềm năng của con người về thể lực và trí lực nhằm tạo một lợi thế cạnh tranh mang tính quyết định.
Theo tác giả Nguyễn Tiệp thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [40]. Khái niệm này chỉ NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. NNL được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Theo tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia 6 vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng, chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [11]. Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo số lượng, chất lượng và cơ cấu: - Về số lượng: thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng NNL.