CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về quản lý nhân lực: 1.1 Nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước đây phương thức quản lý nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý NNL với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, đã tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển [30]. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ "NNL" là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người.
NNL là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia cũng như sự phát triển của cơ quan đơn vị, do vậy phát triển NNL luôn là mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam và tất cả các nước trên thế giới. Hiện nay, các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đề cập đến khái niệm và định nghĩa với góc độ khác nhau về NNL [20]. Theo Nguyễn Thanh Vũ, NNL là sự kết hợp giữa những kỹ năng, kiến thức và các khả năng được đặt dưới sự kiểm soát của một tổ chức dưới dạng mối quan hệ lao động trực tiếp và sự biểu hiện của những khả năng đó dưới hình thức các hành vi của nhân viên sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức [24]. NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả hiện tại cũng như trong tương lai.
NNL cũng phản ảnh tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới [30]. NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. NNL khác với các nguồn lực khác của đơn vị do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm, hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ.
Họ có thể đánh giá và 5 đặt câu hỏi đối với hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh [11].2 Quản lý nhân lực Quản lý NNL liên quan đến tất cả các vấn đề về con người như quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Trong thực tiễn, những hoạt động này rất đa dạng, phong phú và rất khác biệt tùy theo các đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ kỹ thuật, nhân lực, tài chính, trình độ phát triển ở các tổ chức. Hầu như tất cả các tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động cơ bản như: xác định nhu cầu nhân viên, lập kế hoạch tuyển dụng, bố trí nhân viên, đào tạo, khen thưởng kỷ luật nhân viên, trả công,… Tất cả nhằm mục đích “Đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của người lao động; tạo điều kiện cho mỗi người phát huy tối đa các tiềm năng cá nhân; được động viên, khuyến khích nhiều nhất tại nơi làm việc, trên cơ sở đó người lao động trung thành, tận tâm, cống hiến hết mình cho tổ chức” [11]. Công tác quản lý nguồn nhân lực bao gồm: tuyển dụng, đào tạo, các chế độ chính sách hỗ trợ cho việc hoạt động của nguồn nhân lực.
Việc tuyển dụng nhân sự cần đảm bảo cân đối các loại hình cán bộ y tế để bố trí phù hợp với mô hình của đơn vị nhằm sử dụng nguồn nhân lực một cách công bằng, hợp lý, có hiệu quả và tiết kiệm; bên cạnh đó cần có chính sách đào tạo thích hợp để tăng cường chất lượng đội ngũ CBYT và đảm bảo các chế độ chính sách như lương, thưởng, các loại phụ cấp, nghỉ phép, nghỉ dưỡng,. để tạo động lực cho nguồn nhân lực hoạt động phát huy hiệu quả để tăng cường chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân.3 Vai trò của quản lý nguồn nhân lực Quản lý nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại, phát triển trên thị trường. Tầm quan trọng của QLNL trong tổ chức xuất phát từ vai trò quan trọng của con người. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức.
NNL là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của tổ chức nên QLNL chính là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt NNL, vì suy đến cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người [11, 29].4 Chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng việc đảm bảo số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của tổ chức. Để có thể tuyển được đúng người, đúng việc trước hết tổ chức đó phải căn cứ vào kế hoạch hoạt động của mình và thực trạng sử dụng nguồn nhân lực, xác định những bộ phận nào cần tuyển thêm nhân lực. Thực hiện phân tích công việc sẽ cho biết tổ chức cần tuyển thêm bao nhiêu nhân viên và yêu cầu tiêu chuẩn đặt ra đối với các ứng viên là như thế nào? Việc áp dụng các kỹ năng tuyển dụng như trắc nghiệm và phỏng vấn sẽ giúp tổ chức chọn được ứng viên tốt nhất cho công việc [10, 23].1 Hoạch định nguồn nhân lực: Hoạch định NNL là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu NNL và đưa ra các chính sách, các chương trình hoạt động nhằm đảm bào cho tổ chức có đủ NNL với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao [25].
Quá trình hoạch định NNL được thực hiện trong mối quan hệ mật thiết với quá trình hoạch định, thực hiện các chiến lược và chính sách kinh doanh [25]: Bước 1: Phân tích môi trường, xác định mục tiêu và chiến lược cho tổ chức: Phân tích môi trường là cơ sở cho việc xác định mục tiêu, chiến lược cho tổ chức nói chung và hoạch định NNL nói riêng. Môi trường của tổ chức được phân ra thành 2 nhóm: Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, chính sách của chính phủ, các yếu tố về văn hóa xã hội, điều kiện tự nhiên và trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ trong khu vực hoặc quốc gia, các đối thủ cạnh tranh, khách hàng, người cung ứng nguyên vật liệu. Môi trường bên trong bao gồm NNL, tài chính, trình độ công nghệ kỹ thuật, khả năng nghiên cứu và phát triển. Bước 2: Phân tích hiện trạng quản lý NNL trong tổ chức, nhằm xác định các điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi của tổ chức.
Bước 3: Dự báo khối lượng công việc (đối với các mục tiêu, kế hoạch dài hạn, trung hạn) hoặc xác định khối lượng công việc và tiến hành phân tích công việc (đối với các mục tiêu, kế hoạch ngắn hạn). 7 Bước 4: Dự báo nhu cầu NNL (đối với các mục tiêu, kế hoạch dài hạn, trung hạn) hoặc xác định nhu cầu nguồn nhân lực (đối với các mục tiêu kế hoạch ngắn hạn), vấn đề dự báo nhu cầu NNL của tổ chức thường áp dụng cho các mục tiêu, kế hoạch dài hạn, và được thực hiện trên cơ sở của các dự báo về: + Khối lượng công việc cần thiết phải thực hiện + Trình độ trang thiết bị kỹ thuật và khả năng thay đổi về công nghệ kỹ thuật. + Cơ cấu hành nghề cho yêu cầu của công việc + Khả năng nâng cao chất lượng nhân viên. + Tỷ lệ nghỉ việc trong nhân viên + Yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
+ Khả năng tài chính của tổ chức có thể thu hút lao động lành nghề trên thị trường. Đối với các mục tiêu và kế hoạch ngắn hạn, sau khi xác định được khối lượng công việc cần thiết được thực hiện, tổ chức cần tiến hành thực hiện phân tích công việc. Phân tích công việc giúp cho tổ chức xác định được nhu cầu số lượng nhân viên với các phẩm chất, kỹ năng cần thiết để thực hiện các công việc trong tương lai và làm cơ sở cho việc phân công bố trí lại cơ cấu tổ chức, tinh giản biên chế hoặc tuyển dụng thêm nhân viên mới. Bước 5: Thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình quản lý NNL của doanh nghiệp.
Bước 6: Kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện nhằm hướng dẫn các hoạt động NNL, xác định các sai lệch giữa kế hoạch và thực hiện, các nguyên nhân dẫn đến các sai lệch đó và đề ra biện pháp thực hiện. Các đánh giá định lượng có tính khách quan hơn như đánh giá về số lượng và chất lượng nhân viên, năng suất lao động, tỷ lệ thuyên chuyển nhân viên, chi phí tuyển dụng một nhân viên, sự hài lòng của nhân viên đối với công việc.2 Phân tích công việc, thiết lập bảng mô tả công việc và tiêu chuẩn công việc trong một tổ chức Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và 8 các phẩm chất, kỹ năng nhân viên cần thiết phải có để thực hiện tốt công việc. Khi phân tích công việc cần xây dựng được hai tài liệu cơ bản là bảng mô tả công việc và bảng tiêu chuẩn công việc. Bảng mô tả công việc là văn bản liệt kê các chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ trong công việc, các điều kiện làm việc, yêu cầu kiểm tra, giám sát và các tiêu chuẩn cần đạt được khi thực hiện công việc.
Bảng mô tả công việc giúp cho chúng ta hiểu được nội dung, yêu cầu của công việc và hiểu được quyền hạn, trách nhiệm khi thực hiện công việc.