CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm hồ sơ bệnh án Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới tái bản và cập nhật vào năm 2006, “Bệnh án ghi tay: Tài liệu hướng dẫn cho các nước đang phát triển” thì Hồ sơ bệnh án (HSBA) đóng vai trò thiết yếu cho việc chăm sóc sức khỏe hiện tại và tương lai của bệnh nhân. HSBA thu thập thông tin về tình hình sức khỏe của người bệnh và việc điều trị. Hơn nữa, HSBA còn được sử dụng cho việc quản lý và lập kế hoạch cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cho nghiên cứu y học và cho việc thống kê về chăm sóc sức khỏe.
HSBA có thể cung cấp chính xác những thông tin về người bệnh được nhận chăm sóc y tế; các dịch vụ y tế được cung cấp là gì, khi nào, tại sao và như thế nào; cũng như kết quả của việc chăm sóc và điều trị người bệnh [38]. Hồ sơ bệnh án là tài liệu khoa học về chuyên môn kỹ thuật, là chứng từ tài chính và cũng là tài liệu pháp y. Việc làm hồ sơ bệnh án phải được tiến hành khẩn trương, khách quan, thận trọng, chính xác và khoa học [16]. Chất lượng ghi hồ sơ bệnh án Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới tái bản và cập nhật vào năm 2006, “Bệnh án ghi tay: Tài liệu hướng dẫn cho các nước đang phát triển”, trong phần Hướng dẫn đánh giá nội dung HSBA (trang 92), nội dung HSBA có thể được đánh giá bằng cách xem xét những nội dung sau đây có được thực hiện hay không: [38] - Mẫu chấp thuận để điều trị đã được ký bởi bệnh nhân; - Thông tin họ tên và số HSBA nhập chính xác ở tất cả biểu mẫu; - Bác sĩ đã ghi lại tất cả các thông tin thiết yếu; - Bác sĩ đã ký và ghi ngày tất cả các mục bệnh án; - Trang đầu đã được hoàn thành và có chữ ký của bác sĩ tham dự; - Điều dưỡng đã ghi lại và ký tất cả các ghi chép hàng ngày về tình trạng bệnh và chăm sóc bệnh nhân; - Tất cả các đơn thuốc điều trị đã được ghi lại trong HSBA và có chữ ký bác sỹ; - Việc quản lý thuốc đã được ghi chép và ký; 5 - Mẫu gây tê, gây mê (nếu có) đã được hoàn thành và ký; - Mẫu phiếu phẫu thuật (nếu có) đã được hoàn thành và ký; - Chẩn đoán chính / chẩn đoán ban đầu đã được ghi ở mặt trước HSBA; - Các hoạt động và/hoặc các thủ tục đã được ghi lại ở trang đầu; - Nhân viên của bộ phận chịu trách nhiệm về mã hóa đã mã chính xác mã chẩn đoán và bất kỳ điều kiện nào khác được liệt kê (nếu cần).
Để đánh giá nội dung ghi chép HSBA, cần có sự chuẩn bị bản câu hỏi nghiên cứu và có tiêu chuẩn xác định, ví dụ: 100% tuân thủ. Mẫu danh sách kiểm tra: [38] TT Có Không Không áp Nhận xét dụng 1 Ghi tên của người bệnh 2 Ghi tên họ của người bệnh 3 Ghi số HSBA của người bệnh 4 Viết địa chỉ của người bệnh 5 v.v… Theo nghiên cứu của Judith R.Gorman và Blackford Middleton năm 2001 về “ Phương pháp đo lường chất lượng hồ sơ bệnh án” thì chất lượng hồ sơ bệnh án yêu cầu phải có các thuộc tính như: Dễ đọc, chính xác, hoàn thiện và có ý nghĩa [35]. Hiện nay chưa có công bố nào của Bộ y tế về khái niệm chất lượng ghi chép hồ sơ bệnh án mà chỉ ban hành quy chế về chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án và kê đơn điều trị, nằm trong “Quy chế bệnh viện” ban hành năm 2001 theo quyết định số 1895 /1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997. Theo đó, chất lượng ghi hồ sơ bệnh án phải đạt được những nội dung chính sau: Ghi đúng và đầy đủ các mục trong HSBA, chữ viết rõ ràng, không tẩy xóa; Thông tin phải chính xác, khách quan; Hồ sơ phải hoàn thiện kịp thời; Ghi chép theo đúng quy chế chuyên môn về khám bệnh, chẩn 6 đoán bệnh và điều trị.
Đảm bảo đủ các tiêu chí này thì HSBA mới được coi là đạt chất lượng [16]. Gần đây, Bộ y tế đã xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện phiên bản 2. Bộ tiêu chí được xây dựng và áp dụng cũng dựa trên những căn cứ từ Luật khám chữa bệnh, Quy chế bệnh viện ban hành năm 1997, Bản quy định danh pháp quốc tế ICD 10. Cụ thể ở chương C2 về Quản lý hồ sơ bệnh án, thì tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng hồ sơ bệnh án mới nhất hiện nay là “Hồ sơ bệnh án được lập đầy đủ, chính xác, khoa học”, với 5 mức độ đánh giá chất lượng HSBA của bệnh viện.
Mức thứ 5 - mức cao nhất là bệnh viện phải đạt được tất cả 23 tiêu chí đánh giá để đạt được điểm tối đa cho phần đánh giá về hồ sơ bệnh án [9]. Thành phần hồ sơ bệnh án Sản khoa Hồ sơ bệnh án được phân loại theo điều trị ngoại trú, nội trú, hoặc theo các chuyên khoa như : Nội, ngoại, sản, nhi, đông y, truyền nhiễm, mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng…Bộ Y tế đã ban hành 24 mẫu hồ sơ bệnh án dùng cho điều trị nội, ngoại trú tại các cơ sở y tế theo quyết định số 4069/2001/QĐ-BYT ngày 28/9/2001 của Bộ trưởng bộ y tế [17]. Mặc dù HSBA có sự khác nhau giữa các chuyên khoa song vẫn đảm bảo nguyên tắc thống nhất theo quy định chung của Bộ y tế. Kèm theo quyết định này, BYT đã ban hành hướng dẫn ghi chép HSBA theo mẫu chung, bao gồm hướng dẫn chung cho ghi chép phần thông tin chung, nhân khẩu học, tổng kết chẩn đoán và điều trị, thông tin, đặc điểm cần có trong quá trình bệnh lý, bệnh sử, thăm khám người bệnh để phục vụ cho chẩn đoán, bên cạnh đó BYT cũng quy định “Riêng các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành, do yêu cầu chuyên môn có thể bổ sung một số nội dung cần thiết vào các mẫu sau khi được BYT phê duyệt” [17].
HSBA sản khoa đang được sử dụng hiện nay tại BVPSTW cũng có thành phần và nguyên tắc ghi chép giống với HSBA nói chung, tuy nhiên với đặc thù của sản khoa, phần ghi chép chuyên môn trong HSBA sản khoa sẽ bao gồm cả ghi chép quá trình theo dõi thai nghén (khám thai), theo dõi, chăm sóc và điều trị trước, trong và sau quá trình chuyển dạ sinh đẻ hoặc mổ đẻ. Do đó, HSBA sản khoa đang được sử dụng tại BVPSTW bao gồm các phần như sau: - Phần thông tin chung và tổng kết HSBA 7 - Phần khám và chẩn đoán tại khoa Khám - Phần điều trị tại khoa Đẻ - Phần điều trị tại khoa Mổ và khoa Sản - Phần chăm sóc tại khoa Sản 1. Những quy định về chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án và kê đơn điều trị trong HSBA Quy chế bệnh viện được ban hành theo quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 của Bộ trưởng Bộ y tế đã là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động của hệ thống bệnh viện, là xương sống của bệnh viện vì mọi hoạt động đều dựa vào quy chế chuyên môn. Quy chế bệnh viện gồm 153 quy chế và quy định cho toàn ngành y tế thực hiện, được chia làm 5 phần.
Quy chế tổ chức bệnh viện (14 quy chế); Quy chế nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách cá nhân (76 vị trí); Quy chế quản lý bệnh viện (21 quy chế); Quy chế chuyên môn (14 quy chế); và Quy chế công tác một số khoa (28 quy chế) [16]. Hiện nay, một số quy chế đã được thay thế bằng một số thông tư của BYT. Trong đó, Quy chế Chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án và kê đơn điều trị là một quy chế quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng ghi chép hồ sơ bệnh án nói chung, cũng như HSBA sản khoa nói riêng. Về quy định đối với việc khám, chẩn đoán và ghi chép HSBA của bác sỹ Khi bác sỹ tiến hành khám bệnh, chẩn đoán và kê đơn phải kết hợp chặt chẽ các triệu chứng cơ năng, thực thể lâm sàng, cận lâm sàng, yếu tố gia đình xã hội và tiền sử bệnh, sau khi thăm khám cho người bệnh xong thì bác sỹ phải ghi chép đầy đủ các triệu chứng và diễn biến vào hồ sơ bệnh án.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các triệu chứng và các diễn biến bệnh để có chẩn đoán chính xác. - Chỉ định dùng thuốc phải phù hợp với chẩn đoán. - Làm các xét nghiệm bổ sung nếu cần. - Ký ghi rõ họ tên vào hồ sơ bệnh án sau mỗi lần khám [16].
- Người bệnh cấp cứu phải được làm bệnh án ngay, hoàn chỉnh trước 24 giờ và có đủ các xét nghiệm cần thiết. - Người bệnh không thuộc diện cấp cứu phải hoàn chỉnh bệnh án trước 36 giờ. 8 - Phải ghi đầy đủ các mục quy định trong bệnh án, chữ viết rõ ràng, không tấy xóa; họ và tên người bệnh viết chữ in hoa, có dấu. - Người bệnh điều trị trên 15 ngày phải tóm tắt quá trình điều trị theo mẫu quy định.
- Trong quá trình điều trị phải ghi bổ sung các diễn biến, phân cấp chăm sóc, chế độ dinh dưỡng và chỉ định mới vào hồ sơ bệnh án. - Người bệnh chuyển khoa, bác sỹ phải có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án trước khi bàn giao, bác sỹ điều trị tại khoa mới chịu trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ bệnh án của người bệnh. - Người bệnh ra viện, bác sỹ điều trị phải hoàn chỉnh và tổng kết hồ sơ bệnh án theo quy định. Về hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh, theo Thông tư số 23/2011/TT-BYT là thông tư hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh, thông tư có hiệu lực từ 25 tháng 7 năm 2011.
Thông tư này thay thế “Quy chế sử dụng thuốc” trong Quy chế bệnh viện ban hành kèm theo quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/9/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế [18]. Thông tư quy định thầy thuốc khi khám bệnh phải khai thác tiền sử dùng thuốc, tiền sử dị ứng, liệt kê các thuốc người bệnh đã dùng trước khi nhập viện trong vòng 24 giờ và ghi diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án (giấy hoặc điện tử theo quy định của Bộ Y tế) để chỉ định sử dụng thuốc hoặc ngừng sử dụng thuốc. Về cách ghi chỉ định thuốc, thông tư cũng quy định chỉ định dùng thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc, hồ sơ bệnh án, không viết tắt tên thuốc, không ghi ký hiệu.