Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá thành tích nhân viên trong các tô chức. Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá thành tích cán bộ công nhân viên chức tại Trung tâm Y tế thị xã Hương Thủy. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá thành tích cán bộ công nhân viên chức tại Trung tâm Y tế thị xã Hương Thủy. CHUONG 1 UNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH NHAN VIEN TRONG TO CHỨC 1.
Tổng quan về đánh giá thành tích nhân viên 1. Các khái niệm liên quan ~ Nhân lực, nguôn nhân lực Tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức. Nói cách khác, khi người ta cùng nhau hợp tác và thỏa thuận một cách chính thức để phối hợp những nỗ lực của họ nhằm hoàn thành những mục tiêu chung thì một tổ chức sẽ được hình thành. yếu tố quan trọng để các tô chức hình thành, hoạt động và thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định là nhân lực.
Theo khái niệm nhân lực trong tác phẩm “Quản trị nhân lực” của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực” [10] “Theo từ điển tiếng việt, Trung tâm Từ Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997 thì “Nhân lực là sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất. (Huy động nhân lực, nguồn nhân lực dỗi dào) [10] Nhu vậy, có thể hiểu một cách khái quát nhân lực là nguồn lực của mỗi con người (gồm thể lực và trí lực) trong một tô chức. Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay.
Hiện nay chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra định nghĩa “nguồn nhân lực”, mặc dù có nhiều nghiên cứu và bài viết về nguồn lực con người, về tài nguyên con người. Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân va của đất nước” [5]. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tô chức [3] “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó” [4, tr. Từ các khái niệm trên ta có thê thấy, NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức.
~ Quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của tô chức là những người tạo thành đội ngũ lao động trong một tổ chức và thực hiện các hoạt động của tổ chức, họ được ký kết hợp đồng với sự tham gia của các nguồn lực tài chính và vật chất của tô chức đó. Do đó, quản trị NNL là yếu tố then chốt, quyết định sự thành bại của tổ chức và có tác động trực. tiếp đến kết quả hoạt động của tổ chức. “Theo khái niệm quản trị nguồn nhân lực trong tác phẩm Quản trị nguồn nhân lực của trường Đại học kinh tế Đà Nẵng, 2006.
“Quản frị nguôn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng. góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực như hoạch định nguôn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, dao tao và phát triển, thù lao, sức khoẻ và an toàn nhân viên, và tương quan lao động. Trong các nội dung của Quản trị NNL thì đánh giá thành tích có vai trò khá quan trọng trong hoạt động QTNNL của tổ chức. Kết quả của quá trình đánh giá thành tích sẽ là yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thực hiện các chức.
năng còn lại của quản trị nguồn nhân lực. ~ Đánh giá thành tích Đánh giá thành tích là đánh giá kết quả đạt được trong một giai đoạn nhất định thông qua việc thu thập thông tin về quá trình thực hiện công việc và phát triển cá nhân của nhân viên. [7] Đánh giá thành tích nhân viên hay đánh giá sự hoàn thành công tác hay còn gọi là đánh giá thành tích công tác là một hệ thống mang tính xét duyệt và đánh giá mức độ hoàn thành công tác của một cá nhân theo định ky. 274] “Theo khái niệm của tác phẩm Quản trị nguồn nhân lực của trường Đại học kinh tế Đà Nẵng, năm 2006 “Đánh giá thành tích là tiến trình đánh giá những đóng.
góp của nhân viên cho tổ chức trong một giai đoạn”. 161] Qua các định nghĩa trên cho thấy đánh giá thành tích là tiến trình đánh giá khoa học có tính hệ thống, theo định kỳ, đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân viên theo mục tiêu đã đặt ra trong một giai đoạn nào đó. Tầm quan trọng chiến lược của đánh giá thành tích Đánh giá thành tích nhân viên là hoạt động rất quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực. Những khâu quan trọng có tác động đến hiệu quả đánh giá thành tích nhân viên là ~ Thiết kế công việc và xác định hệ thống công việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
- Tuyển dụng nhân lực với khả năng và ước muốn thực hiện công việc một cách hữu hiệu. - Đào tạo, huấn luyện, động viên và khen thưởng nhân viên về thành tích và hiệu suất công việc của nhân viên. Đánh giá thành tích là cơ sở kiểm soát mà đem lại thông tin phản hồi không. chỉ cho từng cá nhân mà còn đánh giá tổ chức về các phần việc đang tiến hành.
Nếu không có thông tin thực hiện công việc, các nhà quản trị của tổ chức chỉ có thể đoán liệu xem nhân viên đang đi đến mục tiêu, theo đúng cách thức và tiêu chuẩn mong muốn hay không. - Sự nhất quán giữa chiến lược tô chức với hành vi công việc: Đảm bảo hành. vi cá nhân nhất quán với chiến lược của tổ chức và cung cấp thông tin phản hồi phản ánh sự nhất quán giữa chiến lược tổ chức và hành vi công việc. - Sự nhất quán giữa giá trị tổ chức và hành vi công việc: Cách thức củng cố giá trị và văn hóa tô chức.
Vai trò của đánh giá thành tích 'Đánh giá thành tích là việc làm rất quan trọng vì nó là cơ sở để khen thưởng, đông viên, kỷ luật,., cũng như giúp cho nhà quản trị trả lương một cách công bằng và khách quan. Cung cấp thông tin: Nhờ vào kết quả đánh giá nhân viên, nhà quản lý sẽ xem xét và đưa ra những quyết định chính xác về mức độ hoàn thành công việc, khả năng làm việc của từng. nhân viên, nhờ đó mà nhân viên có thể cải thiện và thay đổi hành vi làm việc kịp thời. Và nhà quản lý sẽ tuyển chọn được những nhân viên nào vào vị trí thích hợp.
với khả năng của họ. Làm căn cứ lập nên các chương trình đào tạo và phát triển thích hợp. Tạo sự công bằng và khách quan trong tổ chức: Đánh giá thành tích công tác của nhân viên sẽ tạo được sự công bằng và khách quan trong công việc. Nhân viên nào hoàn thành tốt công việc được giao sẽ được đánh giá cao và được khen thưởng, ngược lại những người không hoàn thành.
nhiệm vụ được giao sẽ bị xử phạt tuỳ theo mức độ. Thúc đây nhân viên làm việc: Đánh giá nhằm khuyến khích, động viên và thúc đẩy nhân viên làm việc tốt hơn. Thông qua các chính sách khen thưởng và kỷ luật sau khi đánh giá, các nhân viên cảm thấy sự quan tâm của cấp trên đối với mình và từ đó khích lệ tỉnh thần hãng say làm việc hết mình. Như vậy, trong một tổ chức việc đánh giá thành tích nhân viên có ý nghĩa quan trọng vì nó phục vụ được nhiều mục tiêu quản lý tác động trực tiếp tới cán bộ công nhân viên và tổ chức nói chung.
Các chức năng của công tác đánh giá thành tích Có rất nhiều nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: "Đánh giá thành tích được sử dụng nhằm mục đích gì?". Ở góc độ chung, đánh giá thành tích được sử dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau mà có thể nhóm gộp lại thành 4 loại chính. Mục đích phát triên của đánh giá tập trung vào công việc cải thiện thành tích của nhân viên ở tương lai và phát triển nghề nghiệp, trong khi mục đích hành chính bao hàm việc ra các quyết định tăng lương và thăng tiến. ĐGTT cũng được sử dụng để đóng góp vào sự thịnh vượng và cho mục đích cung cắp các dữ liệu thông tin cần thiết.
Là công cụ phát triển nhân viên Đánh giá thành tích đóng vai trò trong việc củng cố và cải thiện thành tích cũng như trong việc xác định nghề nghiệp và nhu cầu đào tạo. Đánh giá thành tích nhằm khuyến khích phát triển nhân viên. - Củng cố và duy trì thành tích: Bằng cách cung cấp thông tin phản hồi về thành tích quá khứ, người giám sát có thể khuyến khích nhân viên tiếp tục theo chiều hướng thành tích tốt mà họ đã đạt được. - Cải thiện thành tích: Trên cơ sở thông tin về đánh giá thành tích, người giám sát có thê chỉ ra điểm mạnh và điểm yếu, giúp đỡ nhân viên tìm ra cách thức hữu hiệu để hoàn thành tốt các công việc quan trọng.
- Xác định mục tiêu phát triển nghề nghiệp: Các cuộc họp đánh giá thành tích là dịp để người giám sát và nhân viên cơ hội đề thảo luận các mục tiêu và kế hoạch dài hạn cho nhân viên. Người giám sát có thẻ khuyên nhân viên các bước để có thể đạt được mục tiêu này dựa trên cơ sở các kỹ năng quá khứ. - Xác định nhu cầu đào tạo: Nếu một nhân viên cụ thể không đạt được yêu cầu về công việc, chương trình đào tạo có thể giúp họ hiệu chỉnh các kỹ năng cần thiết hoặc sự thiếu hụt về kiến thức. Với những nhân viên thực hiện trên các tiêu chuẩn có thể được đưa vào chương trình phát triển để chuẩn bị việc đề bạt lên chức.