CHƯƠNG I TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm về nhân lực y tế Theo Tổ chức Y tể thế giới (WHO) năm 2006 [80], “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia vào các hoạt động có mục đích chính là nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm quản lý và cả nhân viên giúp việc không trực tiếp tham gia vào các hoạt động dịch vụ y tế.
Nhân lực y tế bao gồm nhân lực y tế chính thức và không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, “nhân lực y tế” chỉ giới hạn là những bác sỹ, còn những đổi tượng khác sẽ không đưa vào trong nghiên cứu.2 Tĩnh hĩnh nhân lựcy tế thế giới Theo báo cáo của WHO (2006) [80] có khoảng 59 triệu nhân viên y tế trên toàn thế giới. Trong đó những người cung cấp dịch vụ y tế chiếm 67% tổng số NVYT, và trong số này, có đến 57% ở châu Mỹ. số lượng y tá/1000 bác sỹ cao nhất tại khu vực châu Phi do số lượng bác sỹ/1000 dân tại khu vực này là thấp.
Phân bố nhân lực, gánh nạnh bệnh tật, chi phí y tế theo khu vực íl Dông nam â 26 “ < h«u phi 20. I>ịa trung hâi J __________________________________________ 'I'ây thái binh dương 5 < ha • “ âu Chau mỹ o. n «» lí) 7* 30 AS 40 4S Nhân lục y tế thế giói I^ỈỊỊUồn'. World Health Organization.tlas of the Health Workforce (http://www.ini/globalatlas/default.asp, accessed 19 January 2006).
Hỉnh 1: Phân bố nhân lực, gánh nặng bệnh tật, chi phỉy tế theo khu vực 5 Hình trên cho thấy trục tung thể hiện cho gánh nặng bệnh tật, trục hoành thể hiện số lượng nhân lực y tế, các dấu chấm thể hiện mức độ chi phí cho y tế tại các Châu lục trên thế giới. Sự phân bổ gánh nặng bệnh tật, nhân viên y tế và các kích thước các dấu chấm thể hiện tổng số tài chính chi phí y tế. Cho thấy NVYT phân bổ không đều trên thế giới. Tại khu vực châu Mỹ, bao gồm Canada và Mỹ chỉ có 10% gánh nặng bệnh tật nhưng có tới 37% NVYT trên toàn thế giới sống ở khu vực này và chiếm hơn 50% nguồn tài chính y tế của thế giới.
Ngược lại, tại khu vực Châu Phi với 24% gánh nặng bệnh tật, nhưng chỉ có gần 3% NVYT, và chỉ có 1% tài chính y tế được chi phí bao gồm cả khoản vay từ nước ngoài. Theo báo cáo của WHO, năm 2006 [80] cho thấy, toàn thế giới có 57 nước có tình trạng thiếu NVYT, số NVYT ước thiếu khoảng 2,3 triệu người tại các Châu lục, trong đó số NVYT thiếu nhiều nhất tại khu vực Đông Nam Á khoảng hơn 1,1 triệu người, chiếm gần 50%/tổng số NVYT thiếu trên toàn thế giới. Sự phân bổ NVYT giữa các khu vực bất họp lý với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến. Tuy nhiên, mật độ NVYT có xu hướng tăng lên ở những nơi dân cư có đủ khả năng chi trả các dịch vụ y tế, tăng cao hơn những khu vực không có cơ sở vật chất và hồ trợ tài chính.
Như vùng nông thôn với 55% dân số sống tại đây, nhưng mật độ NVYT lại ít hơn ở khu vực đô thị. Và tại đô thị tỷ lệ NVYT tập trung như BS chiếm 75%, ĐD trên 60% và 58% NVYT khác [80], 1. Nguồn nhăn lực Y tế Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Y tế, hiện nguồn nhân lực y tế nước ta mới đạt tỷ lệ 40,5 cán bộ y tế/10.000 dân, trong đó có gần 7 bác sĩ/10.622 CBYT trong khối công lập, trong đó ở trung ương có 28.072 người, đạt tỷ lệ 10,2% và địa phương là 247.550 người, đạt tỷ lệ 89,9%. số CBYT phần lớn tập trung ở tuyến địa phương, tuyến trung ương chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng số BS, dược sĩ đại học lại tập trung phần lớn ở khu vực này [48].
- Thiếu nhân lực y tế cho lĩnh vực khám chữa bệnh 6 Định mức biên chế NVYT trong lĩnh vực khám chữa bệnh được tính theo 2 phương án: Làm việc theo giờ hành chính và làm việc theo ca (theo thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, ngày 05/06/2007). Hiện nay ngành y tế đang áp dụng chế độ làm việc theo giờ hành chính thì số lượng NVYT thiếu khoảng 47.035 người, (phân theo tuyến tuyến trung ương cần 2.021 NVYT, tuyến tỉnh cần 35.815 NVYT, tuyến huyện 9. Nếu chuyển sang chế độ làm việc theo ca thì số NVYT ở các bệnh viện công lập sẽ cần tăng thêm khá nhiều cụ thể thiếu 80.775 người (phân theo tuyến, tuyến trung ương cần 8.240 NVYT, tuyến tỉnh cần 50.788 NVYT, tuyến huyện 21. Tại hội nghị giao ban của Bộ Y tế với các tỉnh miền Trung Tây nguyên, ngày 13/6/2008 [62] báo cáo đã chỉ ra, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng nhu cầu nhân lực y tế, nguồn đào tạo có giới hạn.
Dân số mỗi năm tăng thêm khoảng 1 triệu người, hệ thống y tế tư nhân đang phát triển nhanh, thêm nữa hiện nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao, tình trạng mất cân đối về phân bổ nhân lực. Nhiều lĩnh vực đã và sẽ thiếu cán bộ trầm trọng hơn. Nhu cầu NVYT cho cả nước giai đoạn 2008 - 2010 là 109.521 người, tương đương 36. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo y tế cả nước cho đến năm 2007 là 24.
Điều đó cho thấy, nhu cầu về nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là nguồn bác sĩ đang rất cao, ước tính đến năm 2010, mỗi năm sẽ cần thêm 5.965 bác sĩ cho khu vực bệnh viện các tuyến. - Trình độ nguồn nhân lực y tế Nhìn chung, những năm gần đây tỷ lệ nhân lực y té có trình độ sơ học và trung học giảm dần, tỷ lệ NLYT có trình độ đại học và trên đại học tăng (chiếm khoảng 29%). Nhiều loại hình NLYT mới được hình thành như cử nhân điều dưỡng, cử nhân y tế công cộng và cử nhân kỹ thuật y tế. NLYT đã được đào tạo nâng cao trình độ ở bậc sau đại học như tiến sỹ, thạc sỹ.
BS chuyên khoa I (CKI), BS chuyên khoa II (CKII) tăng từ 3098 (năm 2004) đến 5170 (năm 2010) [27], 7 Theo nghiên cứu của Bộ Y tế, năm 2011 [50] cho thấy số lượng CBYT có trình độ cũng còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tỷ lệ bác sĩ chuyên khoa II chỉ có 3.027 người, chiếm 1,1%. chuyên khoa I là 21.900 người, chiếm 7,9%, CBYT có trình độ đại học chiếm 17,7%, số còn lại lên tới 73,3%. - Sự mất cân đối giữa nhăn lực y tế giữa các vùng miền và sự chuyển dịch của đội ngũ BS. Nghiên cứu của Bộ Y tế, năm 2011 [50] cũng chỉ ra rằng có sự thiếu và mất cân đối về nhân lực ở các chuyên ngành, đặc biệt ở những chuyên ngành có thu nhập thấp như y học dự phòng, y tế công cộng.
truyền nhiễm, y pháp, giải phẫu bệnh, lao, phong.Nhân lực y tế cũng phân bố mất cân đối giữa các vùng miền. Nhân lực có trình độ cao như bác sĩ, dược sĩ đại học, đặc biệt là đào tạo sau đại học chủ yếu tập trung ở thành thị và trung tâm lớn, cả khu vực tư nhân và công lập. Bên cạnh đó, cán bộ y tế có trình độ cao đang có xu hướng tập trung về tuyến trên, về những nơi có điều kiện tốt hơn. lĩnh vực chuyên môn có sức hấp dẫn.
bỏ lại tuyến dưới, những vùng khó khăn. Nhân lực y tế ở tuyến trung ương chiếm tới 14,5%/tổng số NLYT của cả nước và tập trung chính ở TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Nhân lực ở địa phương, tập trung ở các thành phố, thị xã (36.8%), sau đó mới đến tuyến huyện (27,6%), và xã (21,1%). Đại đa số CBYT có trình độ cao (đại học và sau đại học) tập trung ở tuyến trung ương và tỉnh, trong đó trình độ đại học chiếm 57,8% và sau đại học là 95,2%.
Tỷ lệ BS/10.000 dân cao nhất là ở các thành phổ lớn, như Đà Nằng (6,9); Hải Phòng (6,6), TP Hồ Chí Minh (6,4). Trong khi đó ở một số khu vực khác thì tỷ lệ rất thấp như Bắc Trung bộ (4,2); Đồng bằng sông Cửu Long (4,1) và Duyên hải Nam Trung bộ (4,5) [27], Dự án nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác đào tạo NLYT, năm 2012 [51] đã chỉ ra phân bố NLYT không đều với tỷ lệ 60% BS tập trung ở thành thị trong khi dân số thành thị chỉ chiếm 28,4% dân số cả nước; trong đó khoảng 25% 8 BS có trình độ đại học trở lên.Qua đó cho thấy, NLYT Việt Nam đang thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Tình trạng dịch chuyển nhân lực y tế từ tuyến dưới lên tuyến trên, về các thành phố lớn và từ y tế công sang tư nhân là báo động, ảnh hưởng đến việc đảm bảo số lượng nhân lực y tế cần thiết ở các cơ sở y tế. Sự dịch chuyển này khiến cho tình hình phân bổ nhân lực y tế ngày càng chênh lệch giữa các tuyến [28].
Theo báo cáo của USAID, 2010 [71] cho thấy số BS bỏ rời BV công lập tại các thành phố lớn chiếm số đông, cao nhất tại TP Hồ Chí Minh với 120 BS, TP Hà Nội với 24 BS và tỉnh An Giang với 14 BS. Theo báo cáo của Phòng tổ chức cán bộ BV Thanh Nhàn [16] trực thuộc Sở Y tế Hà Nội, đến tháng 5/2012. Trong năm 2011 đã có 11 BS chuyển công tác khỏi BV đến làm việc tại các BV tư nhân như Vinmex, trong đó đa số BS có trình độ sau đại học. - Một số chính sách chủ yếu đối với phát triển quản lý nguồn nhân lực Y tế Dự thảo Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực y tế giai đoạn 2011- 2020 đề ra mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2020 sẽ có 52 cán bộ y tế (tất cả các chuyên ngành)/l0.000 dân; 12 điều dưỡng/10.000 dân; 2,5 dược sĩ đại học/10.000 dân; 8 kỹ thuật viên/10.
100% các trường đại học, cao đẳng và trung cấp công lập hoặc ngoài công lập đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục Đào tạo về cơ sở vật chất, điều kiện chuyên môn dành cho công tác đào tạo; bảo đảm đủ nhân lực cho các chuyên ngành có sức thu hút thấp; các cơ sở đào tạo nhân lực y tế bậc đại học có bệnh viện thực hành trực thuộc, đảm bảo điều kiện giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thực hành., đồng thời tham gia khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân [29]. Đây là một thách thức lớn đối với ngành y tế.