Nghiên cứu bào chế liposome berberin ứng dụng dùng đường uống

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu bào chế liposome berberin ứng dụng dùng đường uống, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

243
9
5

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG VÀ TÁC DỤNG HẠ LIPID MÁU IN-VIVO CỦA BERBERIN, LIPOSOME BERBERIN VÀ PROLIPOSOME BERBERIN DÙNG ĐƯỜNG UỐNG

2.1. Đánh giá sinh khả dụng in-vivo dùng đường uống của berberin

2.2. Đánh giá sinh khả dụng in-vivo đường uống của liposome berberin và proliposome berberin

2.3. Mô hình đánh giá tác dụng hạ lipid máu nội sinh của berberin trên động vật thực nghiệm

3. NGUYÊN LIỆU, TRANG THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nguyên vật liệu, thiết bị, động vật nghiên cứu

3.1.1. Nguyên vật liệu

3.1.2. Động vật thí nghiệm

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Thẩm định phương pháp định lượng

3.3.2. Phương pháp nghiên cứu tiền công thức

3.3.3. Phương pháp bào chế liposome berberin

3.3.4. Phương pháp bào chế proliposome berberin

3.3.5. Phương pháp đánh giá một số đặc tính của liposome BBR

3.3.6. Phương pháp đánh giá một số đặc tính của proliposome BBR

3.3.7. Đánh giá sinh khả dụng in-vivo của liposome BBR trên chuột cống

3.3.8. Đánh giá tác dụng hạ lipid máu nội sinh của liposome BBR trên chuột nhắt

3.3.9. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả thẩm định phương pháp định lượng

4.1.1. Thẩm định khoảng nồng độ tuyến tính của phương pháp định lượng berberin bằng quang phổ hấp thụ UV-Vis

4.1.2. Thẩm định phương pháp định lượng berberin bằng HPLC

4.1.3. Thẩm định phương pháp định lượng berberin trong huyết tương chuột bằng sắc ký lỏng kết hợp khối phổ (LC-MS/MS)

4.2. Nghiên cứu tiền công thức

4.2.1. Kết quả đánh giá một số đặc tính của dược chất

4.2.2. Kết quả nghiên cứu tương tác giữa dược chất với tá dược

4.3. Nghiên cứu bào chế liposome berberin

4.3.1. Thiết kế công thức

4.3.2. Bào chế liposome berberin bằng phương pháp tiêm ethanol

4.3.3. Bào chế liposome berberin bằng phương pháp hydrat hóa film

4.3.4. So sánh ảnh hưởng của phương pháp bào chế lên đặc tính của liposome berberin

4.4. Nghiên cứu bào chế proliposome berberin

4.4.1. Xác định một số thông số quy trình và lựa chọn công thức bào chế proliposome berberin

4.4.2. Đánh giá ảnh hưởng một số yếu tố về công thức và thông số trong quy trình đến đặc tính proliposome berberin

4.4.3. Đánh giá một số đặc tính của proliposome berberin

4.4.4. Xây dựng công thức và quy trình bào chế proliposome berberin quy mô phòng thí nghiệm

4.4.5. Nghiên cứu nâng cấp quy mô bào chế proliposome berberin 200 g/mẻ

4.4.6. Nghiên cứu độ ổn định của proliposome berberin

4.5. Đánh giá sinh khả dụng in vivo của liposome berberin

4.6. Đánh giá tác dụng hạ lipid máu nội sinh của liposome berberin

4.6.1. So sánh ảnh hưởng trên nồng độ cholesterol toàn phần huyết thanh của liposome BBR và hỗn dịch quy ước BBR trên chuột được gây tăng lipid máu nội sinh

4.6.2. So sánh ảnh hưởng của liposome berberin và hỗn dịch quy ước berberin trên nồng độ cholesterol tỉ trọng thấp ở chuột được gây tăng lipid máu nội sinh

4.6.3. So sánh ảnh hưởng của liposome berberin và hỗn dịch quy ước berberin trên nồng độ cholesterol tỉ trọng cao ở chuột được gây tăng lipid máu nội sinh

4.6.4. So sánh ảnh hưởng của liposome berberin và hỗn dịch quy ước berberin trên nồng độ triglycerid ở chuột được gây tăng lipid máu nội sinh

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu bào chế liposome berberin

Nghiên cứu bào chế liposome berberin cho ứng dụng đường uống đang thu hút sự chú ý trong lĩnh vực dược phẩm. Berberin là một hợp chất tự nhiên có nhiều tác dụng sinh học, nhưng sinh khả dụng đường uống của nó rất thấp. Việc sử dụng liposome như một hệ thống phân phối thuốc có thể cải thiện đáng kể khả năng hấp thu của berberin. Nghiên cứu này sẽ trình bày các khía cạnh quan trọng liên quan đến bào chế và ứng dụng của liposome berberin.

1.1. Khái niệm và thành phần cấu tạo của liposome

Liposome là các hạt nano có cấu trúc màng phospholipid, có khả năng bao bọc dược chất. Chúng được sử dụng để cải thiện sinh khả dụng của nhiều loại thuốc, bao gồm cả berberin. Cấu trúc này giúp bảo vệ dược chất khỏi sự phân hủy trong môi trường tiêu hóa.

1.2. Tác dụng sinh học của berberin

Berberin có nhiều tác dụng sinh học, bao gồm khả năng hạ lipid máu và điều trị tiểu đường. Tuy nhiên, sinh khả dụng của nó qua đường uống rất thấp, dưới 10%, do bị chuyển hóa và thải trừ nhanh chóng. Việc bào chế liposome có thể giúp khắc phục vấn đề này.

II. Thách thức trong bào chế liposome berberin

Bào chế liposome berberin gặp nhiều thách thức, bao gồm việc tối ưu hóa kích thước và tính ổn định của liposome. Các yếu tố như tỷ lệ phospholipid, phương pháp bào chế và điều kiện bảo quản đều ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Việc nghiên cứu và khắc phục những thách thức này là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả của liposome berberin.

2.1. Vấn đề về kích thước và phân bố của liposome

Kích thước và phân bố của liposome ảnh hưởng lớn đến khả năng hấp thu của berberin. Liposome quá lớn có thể không thẩm thấu tốt qua niêm mạc ruột, trong khi liposome quá nhỏ có thể không giữ được dược chất.

2.2. Tính ổn định của liposome trong môi trường tiêu hóa

Liposome cần phải ổn định trong môi trường tiêu hóa để bảo vệ berberin khỏi sự phân hủy. Các yếu tố như pH, nhiệt độ và thời gian bảo quản có thể ảnh hưởng đến tính ổn định của liposome.

III. Phương pháp bào chế liposome berberin hiệu quả

Có nhiều phương pháp bào chế liposome berberin, bao gồm phương pháp tiêm ethanol và hydrat hóa film. Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng để đạt được sản phẩm chất lượng cao.

3.1. Phương pháp tiêm ethanol trong bào chế liposome

Phương pháp tiêm ethanol giúp tạo ra liposome với kích thước đồng nhất và hiệu suất nạp dược chất cao. Tuy nhiên, cần kiểm soát chặt chẽ các điều kiện bào chế để đảm bảo chất lượng sản phẩm.

3.2. Phương pháp hydrat hóa film cho liposome

Phương pháp hydrat hóa film là một kỹ thuật phổ biến khác để bào chế liposome. Phương pháp này cho phép kiểm soát tốt hơn kích thước và tính chất của liposome, nhưng yêu cầu thời gian và điều kiện cụ thể.

IV. Ứng dụng thực tiễn của liposome berberin trong y học

Liposome berberin có tiềm năng lớn trong điều trị các bệnh lý như tăng lipid máu và tiểu đường. Nghiên cứu cho thấy liposome có thể cải thiện sinh khả dụng của berberin, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị. Việc áp dụng liposome trong y học mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các loại thuốc mới.

4.1. Nghiên cứu về tác dụng hạ lipid máu của liposome berberin

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng liposome berberin có khả năng hạ lipid máu hiệu quả hơn so với dạng thuốc truyền thống. Điều này giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và tiểu đường.

4.2. Tiềm năng ứng dụng trong điều trị tiểu đường

Liposome berberin có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị bổ sung cho bệnh nhân tiểu đường. Nghiên cứu cho thấy berberin có khả năng cải thiện độ nhạy insulin và kiểm soát đường huyết.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của liposome berberin

Nghiên cứu bào chế liposome berberin cho ứng dụng đường uống đã mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực dược phẩm. Mặc dù còn nhiều thách thức cần vượt qua, nhưng tiềm năng của liposome trong việc cải thiện sinh khả dụng của berberin là rất lớn. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho ngành y học.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong bào chế liposome

Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình bào chế liposome, nhằm nâng cao hiệu quả và tính ổn định của sản phẩm. Các nghiên cứu mới có thể tập trung vào việc phát triển các công thức liposome mới.

5.2. Tương lai của liposome trong điều trị bệnh

Liposome có thể trở thành một công cụ quan trọng trong điều trị nhiều loại bệnh khác nhau. Việc phát triển các hệ thống phân phối thuốc mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

27/07/2025
Nghiên cứu bào chế liposome berberin ứng dụng dùng đường uống

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc qua đường uống cho đến nay vẫn là sự lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân bởi dễ sử dụng, dễ kiểm soát liều, thuận lợi trong điều trị các bệnh mạn tính, giảm chi phí. Tuy nhiên, một số thuốc không thể sử dụng được đường uống bởi tính thấm kém, độ tan thấp, không ổn định trong đường tiêu hóa và bị cơ chế bơm ngược thuốc. Vượt qua các rào cản đó là một trong những thách thức lớn cho hệ đưa thuốc qua đường uống [58], [157]. Một số biện pháp đã sử dụng để cải thiện sinh khả dụng đường uống, trong đó có liposome, được biết đến như là một hệ mang thuốc tương đồng sinh học, làm tăng sinh khả dụng cho nhiều dược chất [4].

Kể từ khi được phát minh bởi Bangham và Horne vào năm 1964 [21] cho đến nay, liposome - hệ mang dược chất tiềm năng- đã được nghiên cứu rộng rãi qua các đường dùng khác nhau như đường uống, đường tiêm, đường xông hít, đường nhỏ mũi, mắt và hấp thu qua da [60], [141]. Gần đây, nhiều nghiên cứu mới cho thấy BBR có tiềm năng cao trong điều trị một số bệnh như: tăng lipid máu [82], tiểu đường [156], nhồi máu cơ tim [15]. Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã công bố tác dụng hạ lipid máu của BBR rất đáng chú ý trên động vật thí nghiệm [82], [149] và trên người khi sử dụng liều cao 500 mg x 2-3 lần/ngày [41], [82]. Tuy nhiên, để có tác dụng này, BBR cần được hấp thu vào tuần hoàn.

Trong khi đó, BBR bị hạn chế bởi sinh khả dụng đường uống kém (dưới 10%) do BBR có tính thấm kém, bị chuyển hóa lần đầu ngay tại ruột, bị ảnh hưởng bởi bơm tống thuốc có trên bề mặt niêm mạc ruột, bị tái bài tiết bởi chu trình gan mật [97], [142], [161]. Việc sử dụng BBR dạng thuốc truyền thống qua đường uống với liều cao để điều trị đã dẫn đến những tác dụng không mong muốn, biểu hiện trên đường ruột như: tiêu chảy, táo bón, đau bụng [156]. Những hạn chế về sinh khả dụng đường uống của BBR có thể được khắc phục bằng sử dụng hệ mang dược chất liposome. Mặc dù BBR có tiềm năng lớn nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu nào trong nước về bào chế liposome BBR ứng dụng đường uống để hạ lipid máu.

Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu bào chế liposome BBR nhằm phát triển dạng bào chế mới, có 1 tiềm năng tăng giá trị sử dụng của BBR. Do đó, đề tài: “Nghiên cứu bào chế liposome berberin ứng dụng dùng đường uống” được thực hiện với 2 mục tiêu sau: 1. Xây dựng được công thức và quy trình bào chế liposome berberin và proliposome berberin ở quy mô phòng thí nghiệm. Đánh giá được sinh khả dụng đường uống của liposome berberin và tác dụng hạ lipid máu nội sinh của liposome berberin trên động vật thực nghiệm.

Nguồn gốc Berberin (BBR) là một isoquinolin alkaloid bậc 4, được chiết xuất từ rễ, thân rễ và vỏ của một số loài thuộc chi Berberis, họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) hoặc một số loài khác thuộc các chi Coptis, Hydrastis, Thlictrum, họ Mao lương (Ranunculaceae) [3], [108], [158]. Ngày nay, BBR đã được tổng hợp và sử dụng rộng rãi trong ngành Dược. Công thức - Công thức phân tử: C20H18NO4+ - Khối lượng phân tử: 336,36 g/mol - Tên khoa học: 5,6-Dihydro-9,10-dimethoxybenzo[g]1,3-benzodioxolo [5,6- a] quinolizinium [165]. - Công thức cấu tạo: Hình 1.

Công thức cấu tạo của berberin - Các dạng được sử dụng: berberin base, berberin clorid, berberin sulfat. Tính chất vật lý - Hình thức: tinh thể hay bột kết tinh màu vàng, không mùi, vị rất đắng - Độ tan: Trong môi trường nước, BBR có độ tan 5,27 mM ở 25 oC và 8,5 mM ở 37 oC. Trong môi trường đệm phosphat pH 7,0, BBR có độ tan ở 25 oC và 37oC lần lượt là 4,05 mM và 9,69 mM. Trong môi trường dung dịch acid HCl pH 1,2 và dung dịch đệm phosphat pH 5,0, độ tan thấp hơn 20 lần so với môi trường đệm phosphat pH 7,0 [24].

3 - Nhiệt nóng chảy: 204 - 206 oC - LogP: -1,5 [24]. - Log Dow : - 4,2 ở pH 4,0; -1,03 ở pH 7,3; -0,09 ở pH 10,2 [128]. - Có khả năng phát quang khi kích thích ở bước sóng 350 nm [47]. Tính chất hóa học - Ở vị trí N của berberin không bền trong môi trường kiềm mạnh, tham gia phản ứng mở vòng isoquinolin.

- Liên kết C=N+ trong cấu trúc phân tử berberin dễ bị tác nhân ái nhân tấn công để tạo các dẫn xuất ở vị trí C8 như 8-dihydroberberin hoặc 8- acetonyldihydroberberin [140]. - Có cấu trúc phân tử lưỡng cực tạo ra bởi ion N+ làm thuận lợi cho tương tác lưỡng cực với các phân tử khác. Vì vậy, bất cứ chất nào liên kết với BBR đều cho phổ phát xạ huỳnh quang với cường độ khác nhau [47]. Định tính và định lượng Theo chuyên luận “Berberin clorid” trong Dược điển Việt nam V [2], BBR có thể định tính bằng phổ hồng ngoại hoặc phương pháp hóa học dựa trên sự xuất hiện tủa hoặc màu sắc phù hợp với thuốc thử đặc trưng.

Hàm lượng BBR trong nguyên liệu hoặc trong chế phẩm bào chế có thể định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Định lượng dược chất giải phóng từ chế phẩm bào chế trong phép thử độ hòa tan bằng phương pháp đo phổ hấp thụ UV-Vis. Độ ổn định BBR khá ổn định trong các dung dịch đệm có pH khác nhau. Nghiên cứu của Battu và cộng sự cho thấy, khi bảo quản các dung dịch BBR trong các môi trường đệm với nồng độ đệm 0,2 mM (đệm borat pH 9,0, đệm phosphat pH 7,0, đệm phtalat pH 5,0 và 3,0, và dung dịch acid HCl pH 1,2 ) ở 2 điều kiện nhiệt độ 25 oC và 40 oC trong 6 tháng giảm ít hơn 5% hàm lượng dược chất so với ban đầu [24].

Nhưng BBR bị giáng hóa trong thời gian từ 2-6 giờ sau khi phơi nhiễm với các yếu tố môi trường khắc nghiệt như tia tử ngoại, chất oxy hóa, dung dịch HCl 1N, dung dịch NaOH 1N ở nhiệt độ 80 oC [53]. Tác dụng dược lý Tác dụng truyền thống của BBR là kháng khuẩn và các ký sinh trùng đường 4 ruột như lỵ amip, E. Coli, dùng điều trị tại chỗ các bệnh đường tiêu hóa như đau bụng, tiêu chảy [3], [140]. Ngày nay, có nhiều nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy BBR dạng clorid có nhiều tác dụng dược lý tiềm năng như làm giảm đường huyết [14], [37], [151], [156], chống xơ vữa động mạch [38], bảo vệ nội mô [95], [147], [152], bảo vệ thận [45], [111], bảo vệ gan [48], [162], bảo vệ tim trong suy tim và thiếu máu cục bộ [34], [112], điều hòa miễn dịch [89], [96], [105], chống oxy hóa [13], [129], ức chế tế bào ung thư [93], [148], [159].

Tác dụng làm giảm lipid máu của BBR được khẳng định trong nhiều nghiên cứu trên động vật. Trên chuột cống, BBR ở cả 3 mức liều 50mg/kg, 100mg/kg và 150mg/kg làm giảm cholesterol tỉ trọng thấp (LDL-C) ở mức 31-41%, giảm cholesterol toàn phần (TC) 29-33% so với nhóm chứng sau 8 tuần điều trị. Mức giảm không có sự khác biệt giữa các liều [149]. Trong lúc đó, trên chuột hamster, tỉ lệ giảm LDL-C ở mức liều 50 mg/kg là 26% và ở mức liều 100 mg/kg là 42% so với nhóm chứng sau 10 ngày điều trị [82].

Với mức liều BBR 380mg/kg trên chuột cống sau 2 tuần điều trị, mức giảm triglycerid (TG) và TC lần lượt là 34,7% và 9% so với nhóm chứng [65]. Một nghiên cứu khác trên chuột cống ở mức liều 200mg/kg cho thấy, nồng độ TC và LDL-C trong máu cũng giảm có ý nghĩa thống kê sau thời gian điều trị 16 tuần [35]. Trên chuột nhắt ở liều 250mg/kg (tương đương với liều 125mg/kg trên chuột cống) sau 4 tuần điều trị, BBR làm giảm TC và TG lần lượt là 41,7% và 41,9% so với nhóm chứng một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [160]. Như vậy, BBR ở mức liều từ 50mg/kg có thể làm giảm đồng thời hoặc riêng lẻ nồng độ TC, LDL-C và TG trong máu chuột cống và chuột hamster.

Cơ chế làm giảm lipid máu chính nhờ làm ổn định thụ thể LDL-cholesterol (LDL-C) ở gan bằng con đường điều hòa tín hiệu ngoại bào phụ thuộc kinase, và cũng làm tăng hoạt động phiên mã của chất mồi LDLR qua con đường JNK (c-Jun N terminal kinase) làm tăng biểu hiện và tuổi thọ của thụ thể LDL, do đó làm tăng quá trình thực bào LDL [9], [42], [86]. Ngoài điều chỉnh LDLR, BBR còn hoạt hóa 5’- AMP kinase (AMPK) trong khi chặn con đường hoạt hóa protein mitogen kinase (Mitogen-actived protein kinase-MAPK)/ERK (Extracellular signal-regulated kinase). Kết quả là ức chế tổng hợp lipid [30]. Cơ chế làm giảm lipid máu của BBR 5 được tóm tắt ở sơ đồ sau (hình 1.

Cơ chế làm giảm lipid máu của berberin (BBR)[42]. Ngoài cơ chế tại gan, BBR còn làm giảm lipid máu bằng cách ức chế hấp thu cholesterol ở ruột [149]. Với kết quả từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng BBR có tác dụng làm giảm lipid máu một cách hiệu quả trên động vật thí nghiệm. Sinh khả dụng Tuy BBR có nhiều tác dụng dược lý tiềm năng, nhưng sinh khả dụng đường uống của BBR được báo cáo là thấp (dưới 10%) [161].

Trên động vật, BBR có nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax) là 4 ng/ml sau khi uống liều 100mg/kg chuột cống, AUC0-48h=57,9 ±20,6 ng. Cũng với liều uống này trên chuột cống, một nghiên cứu khác công bố Cmax = 9,48 ± 3,40 ng/ml, Tmax= 2,60 ± 1,14 h, AUC0- 36h=56,5 ±12,8 ng. Khái niệm, thành phần cấu tạo Liposome là những túi nhỏ hình cầu, chứa một hoặc nhiều lớp phospholipid kép đồng tâm bao bọc ngăn nước ở giữa hoặc ngăn cách bởi các ngăn nước, có kích thước thay đổi từ hàng chục đến hàng ngàn nanomet [4], [10]. Thành phần cấu tạo của liposome bao gồm lớp vỏ phospholipid và dược chất.

Ngoài ra còn có các thành phần khác [4], [64] (hình 1. Sơ đồ minh họa đại diện thành phần cấu tạo của liposome [127] Lớp vỏ liposome: Lớp vỏ liposome được cấu tạo phổ biến nhất từ hai thành phần phospholipid và cholesterol [4], [64]. Phospholipid: Phospholipid cũng là thành phần chính cấu tạo nên màng tế bào. Phospholipid dùng bào chế liposome chủ yếu có hai loại là glycerophosphat và sphinomyelin.

Phospholipid có thể tạo thành lớp lipid kép bởi đặc tính lưỡng tính của loại phospholipid gồm đuôi kỵ nước cấu tạo bởi hai chuỗi các acid béo và một đầu thân nước có chứa nhóm phosphat [12], [64]. Một số phospholipid thường dùng để bào chế liposome được trình bày ở bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ