ĐẶT VẤN ĐỀ Progesteron là một hormon nội sinh trong cơ thể có vai trò quan trọng trong điều hòa hệ thống sinh sản ở nữ giới, tuy nhiên sinh khả dụng đường uống của dược chất thấp, khoảng 2,4% do chuyển hóa mạnh qua gan, độ tan thấp và thấm kém [47]. Đề tài của Ths. Vũ Thị Thanh Thủy đã xây dựng được công thức hệ nano tự nhũ hóa (SNEDDS) chứa progesteron với hiệu quả cải thiện độ tan cho dược chất khoảng 18000 lần [7]. Tuy nhiên, bản chất vật lý và hóa học hệ SNEDDS bị thay đổi đáng kể sau khi uống do tương tác với muối mật và dịch tụy trong ruột non do thành phần lipid bị tiêu hóa tương tự quá trình tiêu hóa lipid từ thức ăn [49].
Kết quả của sự thay đổi này có thể làm thay đổi quá trình giải phóng dược chất từ hệ và sự kết tủa thuốc trong môi trường tiêu hóa. Hiện nay, nhận thấy phương pháp đánh giá hòa tan truyền thống bằng thiết bị hòa tan USP I, II không đủ đặc hiệu để đánh giá được đặc điểm dược chất giải phóng từ hệ SNEDDS sau khi bị tiêu hóa, một số nhóm nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào phát triển phương pháp đánh giá quá trình ly giải lipid để từ đó có thể mô phỏng và dự đoán được số phận của dược chất giải phóng từ hệ SNEDDS trong đường tiêu hóa [12, 44, 49-52]. Mặc dù, phương pháp đánh giá này đã được nghiên cứu phổ biến trên thế giới, nhưng hiện chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại Việt Nam. Việc phát triển được công cụ đánh giá ly giải với hệ SNEDDS sẽ có tiềm năng trong đánh giá ảnh hưởng của các thành phần trong công thức, vỏ nang gelatin tới số phận dược chất giải phóng từ hệ SNEDDS.
Hơn nữa, cần phải nghiên cứu đánh giá in vivo để chứng minh vai trò của SNEDDS trong việc cải thiện sinh khả dụng đường uống. Thêm vào đó, dạng bào chế nang mềm là phổ biến nhất để đóng các dạng dịch lỏng thân dầu do có nhiều ưu điểm như: tiện dùng, dễ phân liều, bảo quản và vận chuyển. Đặc biệt, thành phần gelatin trong vỏ có thể ức chế sự tái kết tinh của dược chất tương tự như nghiên cứu của Baek và cộng sự [11]. Xuất phát từ ý tưởng nói trên, nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bào chế và đánh giá viên nang mềm chứa hệ nano tự nhũ hóa progesteron” với những mục tiêu sau: 1.
Nghiên cứu hoàn thiện công thức bào chế hệ SNEDDS thông qua đánh giá quá trình ly giải lipid in vitro. Nghiên cứu bào chế viên nang mềm chứa SNEDDS progesteron bằng phương pháp nhúng khuôn và đánh giá tác dụng ức chế tái kết tinh dược chất của gelatin. Nghiên cứu so sánh in vivo của hệ nano tự nhũ hóa chứa progesteron với viên đối chiếu và mẫu nguyên liệu. Vài nét về progesteron 1.
Công thức hóa học Hình 1.Công thức cấu tạo của progesteron - Công thức phân tử: C21H30O2. - Khối lượng phân tử: 314,47 g/mol. - Danh pháp: Pregn-4-en-3,20-dion. - Lần đầu tiên, năm 1934, A Butenandt chiết được từ vật thể vàng của lợn [1].
Tính chất lý hóa a) Tính chất vật lý: - Tinh thể không màu hay bột kết tinh trắng hoặc gần như trắng, đa hình [2]. - Nhiệt độ nóng chảy: 126-131oC, dạng đa hình chảy ở 121oC. - Độ tan: tan rất ít trong nước (7,00 – 8,81 mg/l), dễ tan trong alcol, ether, cloroform và dầu thực vật [1]. - Hệ số phân bố dầu nước: log P = 3,87.
b) Tính chất hóa học: - Chức ceton: phản ứng Zimmermann cho màu đỏ tím. - Phản ứng tạo hydrazon. - Phản ứng tạo tủa dioxim progesteron. - Hấp thụ UV, IR [1].
Dược động học 1. Hấp thu Sự hấp thu của progesteron phụ thuộc vào đường dùng thuốc. Progesteron khi hấp thu bởi đường tiêu hóa sẽ bị chuyển hóa mạnh qua gan lần đầu, dẫn đến sinh khả dụng thấp. So với đường uống thì đường đặt âm đạo có sinh khả dụng cao hơn, hấp thu nhanh, tránh chuyển hóa bước một qua gan, nồng độ trong huyết tương được duy trì và có tác dụng tại chỗ, so với tiêm bắp thì tiện lợi hơn và không gây đau [20].
2 Progesteron qua đường hô hấp dưới dạng thuốc xịt mũi đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị và không gây kích ứng. Đường trực tràng, đường tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch không thuận tiện, đặc biệt là khi điều trị lâu dài. Nồng độ trong huyết tương của progesteron ở các đường dùng này tương tự nhau [20]. Phân bố Progesteron liên kết chủ yếu với protein huyết thanh từ 96% đến 99%, chủ yếu với albumin (50%-54%) và transcortin (43-48%), 1-2% tổn tại ở dạng tự do hoặc không liên kết.
Progesteron có thể qua được hàng rào máu não và vào sữa mẹ [34]. Chuyển hóa Progesteron được chuyển hóa chủ yếu tại gan, 5α-reductase là enzym chính tham gia vào quá trình chuyển hóa progesteron và chịu trách nhiệm tới 60 đến 65% quá trình chuyển hóa. Các chất chuyển hóa chính trong huyết tương là 20 α-hydroxy-∆-4-α- prenolon và 5 α-dihydroprogesteron. Một số chất chuyển hóa của progesterone được bài tiết qua mật và những chất này có thể bị khử liên hợp và chuyển hóa thêm tại ruột Thời gian bán thải của progesteron trong tuần hoàn rất ngắn, dao động từ 3 đến 90 phút trong các nghiên cứu khác nhau [32].
Thải trừ Ở gan, progesteron chuyển hóa thành pregnadiol và liên kết với acid glucuronic rồi đào thải qua nước tiểu dưới dạng prednandiol glucuronic [3]. Tác dụng dược lý - Progesteron là một hormon steroid tự nhiên được tiết ra chủ yếu từ hoàng thể ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt, ngoài ra nhau thai, tinh hoàn và tuyến thượng thận cũng tiết ra một phần. Progesteron tác dụng lên giai đoạn hai của chu kỳ kinh nguyệt: - Tác dụng làm dày niêm mạc, tăng sinh và nở to tử cung. - Tăng nội mạc, tuyến tiết, thể đệm.
- Tăng tiết niêm dịch chuẩn bị cho sự đính của trứng đã thụ thai. - Làm giảm co bóp tử cung, giảm đáp ứng của tử cung với oxytocin. - Phát triển tuyến sữa để chuẩn bị cho sự bài tiết sữa dưới ảnh hưởng của prolactin - Liều cao gây ức chế LH tuyến yên làm ức chế phóng noãn nên có tác dụng chống thụ thai. Ức chế cạnh tranh với aldosteron tại receptor mineralocorticoid ở ống thận làm tăng thải Na+ [3].
Chỉ định - Sảy thai nhiều lần, dọa sảy thai, băng huyết, băng kinh, rối loạn kinh nguyệt. 3 - Các rối loạn ở thời kỳ tiền mãn kinh, mãn kinh. - Chống thụ thai, điều trị một số ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú [3]. Một số chế phẩm trên thị trường Bảng 1.
Một số chế phẩm thị trường chứa PGT Đường dùng Chế phẩm Chỉ định Gel đặt âm đạo - Vô sinh do thiếu hụt PGT. Crinone 8% Âm đạo Viên nang - Dùng hỗ trợ trong kỹ thuật hỗ trợ sinh Utrogestan® 200 mg sản ở phụ nữ vô sinh do thiếu hụt PGT. - Dùng kèm estrogen để bổ sung cho phụ nữ tiền mãn kinh. Dung dịch Gestone Tiêm bắp - Điều trị rối loạn kinh nguyệt.
100 mg/2ml - Ngăn ngừa sảy thai và duy trì thai kì khi thiếu hụt PGT. - Sử dụng trong liệu pháp thay thế Viên nang hormon. Đường uống Utrogestan® 100 mg - Dùng kèm estrogen để bổ sung cho phụ nữ tiền mãn kinh. - Hỗ trợ điều trị các bệnh u lành tính ở Qua da Gel Progestogel 1% tuyến vú, các bệnh đau vú do mất cân bằng hormon estrogen và PGT.
Hệ thống phân loại công thức lipid Hệ phân phối thuốc dựa trên lipid (Lipid Formulation Classification System) là một hệ lỏng đồng nhất có khả năng mang thuốc ổn định. Hệ thống phân loại các công thức dựa trên lipid (LBFs) đã được C.Pouton xây dựng mô hình từ năm 2000 [40] và được bổ sung năm 2006 [39]. Hệ thống được chia thành các nhóm như sau: Bảng 1. Phân loại hệ phân phối thuốc dựa trên lipid Tỉ lệ trong công thức % (kl/kl) Tá dược I II IIIA IIIB IV Pha dầu (triglycerid hoặc hỗn hợp 100 40-80 40-80 <20 - diglycerid& monoglycerid) Chất diện hoạt không tan trong nước - 20-60 - - 0-20 Chất diện hoạt tan trong nước - - 20-40 20-50 30-80 Đồng dung môi thân nước - - 0-40 20-50 0-50 4 - Nhóm I có bản chất là dung dịch dược chất trong dung môi lipid.
Các lipid được sử dụng thường là các dầu thực vật, bởi chúng an toàn cho đường uống, được tiêu hóa nhanh và hấp thu hoàn toàn trong ruột [39]. - Nhóm II là các công thức chứa dầu và các chất diện hoạt không tan trong nước. Công thức điển hình là hỗn hợp của triglycerid mạch trung bình và Span 85 hay hỗn hợp của triglycerid mạch trung bình và polyoxyethylen-(25)-glyceryl trioleate. Các công thức nhóm II có khả năng tự nhũ hóa tạo nhũ tương có kích thước giọt từ 0,25-2μm [39].
- Nhóm III được chia làm IIIA và III B để phân biệt giữa công thức chứa một lượng tương đối lớn là dầu (IIIA) và công thức chủ yếu tan trong nước (IIIB). Hiện tại phân loại A, B của nhóm III chưa được xác định rõ, điều quan trọng là phải thiết lập các tiêu chí đánh giá hiệu suất in vitro để phân biệt vì nhóm IIIB có tốc độ kết tinh dược chất cao hơn rất nhiều so với công thức nhóm IIIA [39]. - Công thức nhóm IV không chứa dầu, đại diện cho các công thức rất ưa nước, chứa thành phần là chất diện hoạt hay hỗn hợp của chất diện hoạt và đồng dung môi. Ưu điểm của nhóm IV là khả năng hòa tan được nhiều dược chất khó tan trong nước.
Đồng dung môi tạo điều kiện phân tán chất diện hoạt, làm giảm kích ứng do nồng độ chất diện hoạt cao cục bộ. Tuy nhiên, khi pha loãng với nước thì dược chất trong các công thức nhóm IV dễ bị tủa lại nhất. Dược chất trong công thức có thể bị tủa lại dưới dạng tinh thể mịn hay vô định hình [39]. Hệ tự nhũ hóa 1.
Khái niệm hệ tự nhũ hóa Hệ tự nhũ hóa (HTNH) là hỗn hợp đồng nhất của dầu (tự nhiên hoặc tổng hợp) với chất diện hoạt (thân nước hoặc thân dầu), đồng dung môi và dược chất. Các hệ này thuộc nhóm II và III trong hệ thống phân loại công thức lipid (LFCS -Lipid formulation classification system) và có thể nhanh chóng tạo thành nhũ tương dầu trong nước, vi nhũ tương (microemulsions) hay nano nhũ tương (nanoemulsions) khi phân tán trong dịch tiêu hóa dưới sự tác động của dạ dày và ruột [27]. Hệ tự nhũ hóa tạo ra nhũ tương có kích thước khác nhau từ nanomet đến micromet.