Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế 1. Một số khái niệm về chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế Khái niệm chính sách: Qua nghiên cứu nhiều tài liệu cho thấy hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm của cụm từ “chính sách”. Trong các Từ điển tiếng Việt của các Nxb tại Việt Nam những năm gần đây đã nêu khá đầy đủ khái niệm về chính sách nói chung và về các chính sách cụ thể nói riêng: chính sách xã hội, chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, chính sách dân tộc hoặc khái niệm về chính sách công.
Mỗi loại chính sách được nhìn nhận dưới những độ khoa học khác nhau, có quan điểm, khái niệm khác nhau nhưng cũng có những quan điểm chung. Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2010, Nxb. Thống kê, Hà Nội đã nêu khái niệm về chính sách: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Muốn đầu ra chính sách đúng phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.” Như vậy, theo khái niệm này, nội hàm của chính sách bao gồm: - Chính sách là thể chế hoá (cụ thể hoá) đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực nào đó, một đối tượng nào đó (thí dụ: chính sách dân tộc, chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh thiếu niên v. 10 - Bất kể chính sách nào cũng được thực hiện trong một thời gian nhất định và lĩnh vực nhất định (thí dụ: chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2015 - 2020. Chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2015 – 2020 v.
- Các chính sách được xây dựng phải căn cứ (dựa) vào đường lối, chủ trương của Đảng và các chính sách, luật pháp chung của Nhà nước. - Muốn chính sách có tính khả thi cao (đi vào cuộc sống) cần thực hiện sáng tạo chính sách đó: vận dụng đường lối, chủ trương, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện cụ thể địa phương, ngành, đơn vị. Đối với lĩnh vực chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. Căn cứ vào khái niệm chính sách chung và các quan niệm gần đây về chính sách phát triển nguồn nhân lực.
Có thể quan niệm về chính sách phát triển nguồn nhân lực như sau: - Theo nghĩa rộng: chính sách phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận trong chính sách phát triển con người thông qua những hành động ứng xử của các chủ thể xã hội trong việc chăm lo, giáo dục công dân trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đạt những mục tiêu nhất định. - Dưới góc độ chính sách công: chính sách phát triển nguồn nhân lực là những hành động ứng xử của Nhà nước thông qua việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng bằng các quy phạm pháp luật trong việc chăm lo, giáo dục công dân trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế. Chủ thể của Chính sách phát triển nguồn nhân lực là: - Cơ quan ban hành chính sách nguồn nhân lực là Nhà nước gồm Quốc hội và Chính phủ (cấp Trung ương); các bộ ngành thuộc Chính phủ và HĐND các cấp. 11 - Chính sách được thể hiện bằng các hình thức khác nhau: hệ thống các văn bản pháp luật và pháp quy: Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư., các quyết sách, hành động của Nhà nước: khen thưởng, hỗ trợ, điều chỉnh… - Chính sách phát triển nguồn nhân lực thể hiện việc chăm lo giáo dục, đào tạo trình độ văn hoá, chuyên môn, nghề nghiệp, tay nghề, kỷ luật lao động, kỹ năng lao động cho người lao động.
- Mục tiêu của chính sách phát triển nguồn nhân lực: đào tạo công dân trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế. Khái niệm nguồn nhân lực y tế: “Nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đã đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau như: Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực, thể lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân có thể tham gia vào phát triển quốc gia một cách trực tiếp hoặc tiềm năng, theo cách hiểu này nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên”.
Theo tác giả Nguyễn Đăng Thành “Nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.” Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển. Nguồn nhân lực không chỉ được xem xét đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng bao gồm cả yếu tố thể lực, trí lực và kĩ năng lao động, thái độ lao động và phong cách làm việc.
Như vậy có thể hiểu: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hợp các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội". Trong nguồn nhân lực, chất lượng con người đóng vai trò quyết định, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ thì nguồn nhân lực có chất lượng cao có vai trò quyết định trong sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển. Khái niệm nội dung chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế: 13 Theo quan điểm của tổ chức Liên Hợp Quốc: “Phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào làm việc có hiệu quả, cũng như để thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. Đứng trên quan điểm xem “Con người là vốn - vốn nhân lực” Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân". Tác giả Phạm Thành Nghị cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phầm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội". Mặc dù còn nhiều cách tiếp cận khác nhau về phát triển nguồn nhân lực xong có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực là hành vi của tổ chức nhằm tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, từ đó làm gia tăng giá trị con người.
Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi sự quan tâm và can thiệp của Nhà nước bằng các phương pháp, chính sách nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Nguồn nhân lực y tế (Health human resources: HHR) - còn được biết đến là nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe (human resources for health: HRH) 14 hoặc lực lượng lao động chăm sóc sức khỏe (health workforce), được định nghĩa là "tất cả những người tham gia vào các hoạt động có mục đích chính là nâng cao sức khỏe", theo Báo cáo Sức khỏe Thế giới của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2006. Nguồn nhân lực y tế được xác định là một trong những trụ cốt chính của hệ thống y tế.