CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ, LÝ THUYẾT VẬN DỤNG VÀ TỔNG QUAN VỀ BẮC BỘ, CHÂU THỔ BẮC BỘ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về vẻ đẹp của người phụ nữ Việt theo quan niệm dân gian Các tác giả thường dành một bài viết hoặc một số trang sách đề cập đến cái đẹp của người phụ nữ cổ truyền. Trong bài thuyết trình năm 1990, tác giả Phạm Thị Nhung cho rằng, người phụ nữ Việt Nam xưa có hai giai đoạn quan trọng trong cuộc đời, đó là khi còn con gái và khi đã lập gia đình.
Tác giả nhận xét, nhìn chung quan niệm về dung nhan người đẹp thời trước qua ca dao không thấy khác ngày nay bao nhiêu. Ở thời đại hiện nay, người ta thích răng trắng và chuộng những người có vóc dáng cao. Nhưng ở thời nào thì đa phần người phụ nữ cũng thích trang điểm và có ý ăn mặc điệu đà đôi chút nhằm tôn thêm nhan sắc. Tác giả Trần Ngọc Thêm nhận thấy, chiếc yếm ngày xưa tạo nên nét đẹp duyên dáng và sức quyến rũ của người phụ nữ Việt Nam [102, tr.
Cũng quan tâm đến vấn đề này, tác giả Phạm Anh Trang nhận xét, cách ăn mặc của người phụ nữ luôn thể hiện sự linh hoạt, phù hợp với từng thời đại, chẳng hạn như sự thay đổi của chiếc yếm và chiếc áo dài [122]. Theo tác giả Vũ Ngọc Khánh, trang phục còn thể hiện địa vị xã hội, phẩm chất của người phụ nữ [55]. Cũng quan tâm đến trang phục của người phụ nữ xưa, tác giả Ngô Đức Thịnh viết khá kỹ về chiếc áo dài của người phụ nữ thuở trước. Ngoài ra ông cũng viết về cách thức chải tóc rẽ ngôi của người phụ nữ ngày trước và cách chít khăn vuông, khăn mỏ quạ của phụ nữ Bắc Bộ 11 và việc phụ nữ Nghệ Tĩnh đội khăn đầu rìu [108].
Đáng chú ý có hai nữ tác giả dành số trang đáng kể, viết một cách có hệ thống về chủ đề đang bàn. Năm 2008, tác giả Lê Thị Nguyệt hoàn thành luận văn thạc sĩ Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt [84]. Năm 2012, nhà giáo Nguyễn Thị Thúy Loan bảo vệ luận văn thạc sĩ Vấn đề miêu tả ngoại hình con người trong “Kho tàng ca dao người Việt” [71]. Hai tác giả, bằng phương pháp thống kê đã phân tích vẻ đẹp bộ phận và vẻ đẹp tổng thể ngoại hình của người phụ nữ Việt trong thơ ca dân gian.
Các kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Thúy Loan đã giúp ích rất nhiều cho NCS trong quá trình thực hiện đề tài luận án. Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của người phụ nữ bằng phương pháp dân gian 1. Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của người phụ nữ Việt bằng phương pháp dân gian Năm 2000, trong cuốn sách Những phương thuốc làm đẹp từ cây thuốc nam, tác giả Thiên Kim đề cập đến đặc điểm, thành phần cấu tạo, cách sử dụng và phòng tránh cũng như những công dụng làm đẹp từ cây thuốc nam. Các phương thuốc này rất dễ tìm kiếm và rất hiệu quả trong sử dụng [58].
Năm 2007, trong cuốn Cây nhà lá vườn vị thuốc chữa bệnh và làm đẹp, tác giả Công Anh sưu tầm và giới thiệu nguyên liệu rau, củ, quả và cách chế biến để có công dụng chữa bệnh, làm đẹp, dưỡng sinh chăm sóc sức khỏe [6]. Năm 2008, cuốn sách đồ sộ Almanach người mẹ và phái đẹp của nhiều tác giả được xuất bản. Trong sách này, có mục “Bí quyết làm đẹp”. Mục này gồm nhiều bài, trong đó có những bài như “Bí quyết kéo dài tuổi thanh xuân và sắc đẹp”, “Một số thực phẩm giúp con người kéo dài tuổi thanh xuân”, “Dưỡng da bằng tỏi”, “Day huyệt, xoa bóp giữ gìn sức khỏe và nhan sắc”,… 12 Tất cả gồm 36 bài với 32 trang khổ lớn.
Sách này còn có mục “Phái đẹp với y học” gồm 69 bài với 89 trang khổ lớn. Những bài trong tập sách là những bài viết ngắn, chưa phải là những công trình khoa học chuyên sâu [87]. Ngoài ra còn có các cuốn sách của Hoa Phượng, Nguyễn Thúy Ngà, Nam Việt, Thanh Hải và Thanh Minh, Hà Hương, Nguyễn Trúc Chi,… Các phương pháp làm đẹp (qua ăn uống, luyện tập, trang điểm) của người phụ nữ chủ yếu được đúc kết từ kinh nghiệm trong dân gian. Các tài liệu đề cập cụ thể đến các bài thuốc, công thức, cách chế biến ra sản phẩm làm đẹp từ các sản phẩm tự nhiên, cách sử dụng để làm đẹp cho phụ nữ ở các lứa tuổi khác nhau.
Riêng về việc chăm sóc sức khỏe dưới cái nhìn dân gian, năm 2002, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân giới thiệu 54 câu tục ngữ (có chú giải) nói về ốm đau, chữa bệnh [63, tr. Cho đến nay, còn thiếu các nghiên cứu từ cách tiếp cận văn hóa, xã hội để đánh giá, tìm hiểu nhu cầu thẩm mỹ, xu hướng về chăm sóc sắc đẹp, sử dụng lựa chọn các phương pháp làm đẹp (truyền thống và hiện đại) để từ đó có những khuyến nghị phù hợp nhằm duy trì và phát huy văn hóa truyền thống (qua hệ thống tri thức dân gian), đồng thời giúp phụ nữ Việt Nam tiếp cận lựa chọn các phương pháp làm đẹp an toàn, tiết kiệm và hiệu quả bên cạnh các công nghệ làm đẹp hiện đại. Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ các dân tộc thiểu số bằng phương pháp dân gian Những năm gần đây, một số lượng đáng kể những cuốn sách có nội dung bàn về việc chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ các dân tộc thiểu số. Các tác giả chủ yếu viết về việc chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ trong khi mang thai và sau khi sinh: Tri thức dân gian liên quan đến tập quán sinh đẻ và chăm sóc trẻ em của dân tộc Sán Dìu ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên 13 Quang của Đinh Thị Hồng Thơm [113], Phong tục sinh đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh của người Dao Tuyển do Lê Thành Nam chủ biên [78], Tri thức dân gian về cúng chữa bệnh cho phụ nữ và trẻ em của người Dao Tuyển ở Lào Cai của Nguyễn Thị Minh Tú và Triệu Văn Quẩy [128], Tri thức dân gian chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ và trẻ em người Phù Lá, Bắc Hà, Lào Cai của Chảo Chử Chấn [17],…Đáng chú ý là sức khỏe của những phụ nữ thuộc các dân tộc thiểu số đã được quan tâm.
Điều này chứng tỏ cái nhìn tiến bộ và đúng đắn đối với phụ nữ và các dân tộc thiểu số ngày một phổ biến. Nhìn chung, các tài liệu viết về tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe của phụ nữ còn khá hiếm. Các tài liệu viết về việc làm đẹp hiện nay của phụ nữ chủ yếu là các bài thuốc, các phương pháp có tính chất kĩ thuật, ít có những tổng kết lí luận. Tuy nhiên, những gì của các tác giả đi trước đã được công bố sẽ là những gợi ý bổ ích đối với NCS.
Lý thuyết vận dụng và khái niệm 1. Lý thuyết vận dụng Trong luận án, chúng tôi vận dụng bốn lý thuyết chính. Đó là lý thuyết về thẩm mĩ và cái đẹp, lý thuyết về tri thức dân gian, lý thuyết về văn hóa vùng, lý thuyết sinh thái học văn hóa. Có nhiều quan niệm thẩm mĩ và cái đẹp.
Ở đây, NCS tiếp thu quan niệm của các tác giả Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Ngọc Long, Lại Nguyên Ân [48], [8]. Đây chính là quan niệm vận dụng mỹ học mác xít. Lý thuyết về tri thức bản địa được khởi xướng bởi các nhà nghiên cứu quốc tế. Ở ta, các tác giả Hoàng Xuân Tý, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Ngọc Thanh, Vương Xuân Tình,… đã vận dụng nó và tác giả Ngô Đức Thịnh còn gọi nó là tri thức dân gian [132], [107].
Nội dung chủ yếu của lý thuyết này chỉ ra các đặc điểm của tri thức dân gian, vai trò và tác dụng của nó trong xã 14 hội trước đây, vai trò và hạn chế của nó trong cuộc sống ngày nay. Lý thuyết về vùng văn hóa cũng do các nhà khoa học nước ngoài khởi xướng. Áp dụng lý thuyết này và vận dụng để nghiên cứu văn hóa Việt Nam có các tác giả Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên, Huỳnh Khái Vinh,…[108], [142]. Các tác giả quan niệm một vùng văn hóa được tạo thành trong quá trình lịch sử lâu dài, được quy định bởi điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, lịch sử cư dân, cách thức canh tác và các sinh hoạt văn hóa xã hội.
Bên cạnh tính chất chung, mỗi vùng văn hóa lại có sắc thái riêng, thậm chí nét riêng. Phương án phân vùng văn hóa Việt Nam của Ngô Đức Thịnh khác với phương án phân vùng cùng tên của Đinh Gia Khánh và các tác giả khác. Ở đây, NCS theo cách phân vùng Việt Nam có ba vùng văn hóa. Trong các truyền thống nghiên cứu văn hóa, nhất là đối với nhân học và xã hội học văn hóa, người ta cũng thường nhắc đến cách tiếp cận dựa trên sinh thái học.
Là một khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các cơ thể sống với môi trường tự nhiên, sinh thái học được nhà tự nhiên học người Đức là Haeckel đề xướng vào năm 1866. Về sau, khi nội dung khái niệm được mở rộng, sinh thái học đồng thời trở thành một bộ phận của khoa học xã hội, mà theo đó, môi trường tự nhiên khách quan có ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chức xã hội, lối sống và tư tưởng của con người. Mối quan hệ tương tác giữa tự nhiên, xã hội và văn hóa cũng gắn liền với những nghiên cứu của J. Hướng cơ bản trong các công trình của tác giả này là tìm hiểu sự thích nghi của con người xã hội với môi trường chung quanh, hay nói đầy đủ hơn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm của các hệ thống xã hội tổng thể (như dân số, thể chế xã hội, khoa học, kỹ thuật, phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống, v.v…) dưới sự tác động của các hệ sinh thái.
Như vậy, sinh thái học văn hóa được coi như một mô hình lý thuyết để tìm hiểu mối quan hệ qua lại 15 giữa con người và môi trường tự nhiên bao quanh, cũng như tìm hiểu về văn hóa với tư cách là sản phẩm của mối quan hệ đó.