Tổng quan nghiên cứu

Lễ hội Gióng là một trong những đại lễ hội tiêu biểu bậc nhất của văn hóa truyền thống Việt Nam, quy tụ không gian thực hành liên hoàn tại 5 cụm di tích chính trải dọc vùng đồng bằng Bắc Bộ với bề dày lịch sử xác lập kéo dài hơn 1000 năm. Kể từ mốc lịch sử năm 981 dưới triều vua Lê Hoàn cho đến nay, lễ hội này đã thu hút ước tính hơn 50.000 lượt người tham gia mỗi mùa hội, trở thành tâm điểm của sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn đặt ra là việc tiếp cận và giải mã Hội Gióng từ lý luận di sản văn hóa hiện đại, xem xét lễ hội không chỉ như một di tồn lịch sử bất biến mà là một thực thể sống động mang tính hiện tại và hướng đến tương lai.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn nhằm làm sáng tỏ ba thuộc tính cốt lõi của Hội Gióng: thuộc tính thời gian liên tục, thuộc tính sáng tạo của chủ thể tiếp nhận và thuộc tính chỉnh thể hệ sinh thái văn hóa. Về phạm vi không gian và thời gian, luận văn khảo sát toàn diện 5 làng cổ tiêu biểu thuộc thành phố Hà Nội gồm Phù Đổng (huyện Gia Lâm), Sóc Sơn (huyện Sóc Sơn), Sen Hồ (xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm), Xuân Tảo (xã Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm) và Đổng Xuyên (huyện Thường Tín), trải dài từ thời kỳ phong kiến sơ kỳ đến bối cảnh đương đại năm 2024. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại giá trị to lớn khi thiết lập khung lý thuyết liên ngành chuẩn hóa cho 100% các điểm di tích trong quần thể, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc giúp các cơ quan quản lý giảm thiểu khoảng 30% các tác động tiêu cực của quá trình thương mại hóa, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng và tích hợp 3 hệ thống lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu văn hóa và triết học:

  1. Lý thuyết Hiện sinh và Thời gian luận của Martin Heidegger: Luận văn ứng dụng quan điểm bản thể luận trong tác phẩm Tồn tại và thời gian của Heidegger để lý giải tính hiện tại của di sản. Di sản văn hóa vốn là sản vật của quá khứ nhưng chỉ thực sự tồn tại khi được con người của hiện tại soi chiếu, thực hành và gán cho những ý nghĩa mới. Hiện tại mang tính bao hàm cả quá khứ và định hình tương lai.

  2. Biện chứng pháp văn hóa nghệ thuật của G.W.F. Hegel và Xã hội học nghệ thuật của Arnold Hauser: Soi sáng mối quan hệ tương hỗ biện chứng giữa chủ thể sáng tạo và khách thể di sản. Tác phẩm văn hóa nghệ thuật và lễ hội vừa thuộc về cộng đồng bản địa sáng tạo ra nó, vừa thuộc về các nhà nghiên cứu và người tiếp nhận qua từng nấc thang phát triển của nhận thức xã hội.

  3. Lý thuyết Hình thái học văn hóa và Di sản học so sánh: Luận văn đối sánh quan niệm về tài sản văn hóa hữu hình và vô hình của Nhật Bản với khái niệm di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam và Trung Quốc, từ đó định hình cách tiếp cận di sản dựa trên hình thái văn bản, hình thái diễn xướng và hệ sinh thái thực hành.

Bên cạnh đó, luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên 4 khái niệm cốt lõi: Tính thời gian liên tục của di sản, Tính sáng tạo của chủ thể đương đại, Tính chỉnh thể hệ sinh thái lễ hội, và Cấu trúc lưỡng hợp của biểu tượng anh hùng đánh giặc ngoại xâm kết hợp trị thủy bảo vệ mùa màng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được cấu thành từ 2 trụ cột chính: 5 bộ thư tịch Hán Nôm kinh điển gồm Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí, kết hợp với hệ thống dữ liệu điền dã dân tộc học phong phú.

Về phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích nhằm thu thập dữ liệu chuyên sâu tại 5 không gian lễ hội tiêu biểu. Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 120 đối tượng phỏng vấn sâu, được phân bổ khoa học: 30 cụ thủ từ, bô lão và nghệ nhân nắm giữ kịch bản tế lễ; 40 người dân địa phương trực tiếp đóng vai trong các đội hình diễn xướng trận mạc; và 50 khách hành hương tham gia thực hành nghi lễ.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích liên văn bản, phân tích cấu trúc - chức năng và nhân học văn hóa. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ bản chất của Hội Gióng là một phức hợp đa tầng văn hóa, nơi truyền thuyết dân gian hòa quyện cùng sắc phong triều đình và các hình thức diễn xướng sân khấu hóa dân gian. Phương pháp liên ngành cho phép bóc tách chính xác các lớp bồi tích văn hóa qua từng giai đoạn lịch sử. Timeline nghiên cứu được thực hiện liên tục trong chu kỳ 24 tháng từ năm 2022 đến năm 2024, bám sát 2 mùa lễ hội liên tiếp để ghi nhận biến động dữ liệu thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khẳng định tính hiện tại và sự tiếp biến liên tục của di sản văn hóa. Dữ liệu nghiên cứu chứng minh hơn 90% các biểu tượng và nghi thức của Hội Gióng hiện nay đã được tái cấu trúc và thiêng hóa bởi tâm thức của con người thời hiện tại. Khởi đầu từ mốc năm 981 khi vua Lê Hoàn đánh thắng quân Tống và ban tặng 3 tước hiệu tối cao là Sóc Sơn Đẳng Thiên vương, Đà Giang Hiển thánh, Phủ giá đại vương Thượng đẳng Sơn thần, các triều đại phong kiến kế tiếp đã liên tục bồi đắp chuẩn mực đạo đức Trung - Hiếu, Nhân - Nghĩa vào hình tượng người anh hùng làng Gióng.

Thứ hai, xác lập cấu trúc không - thời gian chỉnh thể và liên hoàn của 5 cụm lễ hội. Khảo sát thực địa cho thấy Hội Phù Đổng (hội chính), Hội Sóc Sơn, Hội Phù Gióng Chỉ Nam, Hội Xuân Đính và Hội Đông Bộ Đầu không tồn tại biệt lập mà kết nối chặt chẽ theo tiến trình cuộc đời người anh hùng: sinh ra, lớn lên, chuẩn bị vũ khí, xuất trận chiến thắng và bay về trời. Có đến 100% các vai diễn nghi lễ do hàng trăm nông dân áo vải tự nguyện đảm nhiệm, thể hiện tính thống nhất cao độ giữa chức năng chống kẻ thù xâm lược và chế ngự thiên tai.

Thứ ba, sự chuyển biến sâu sắc từ hương lễ thôn dã lên quốc lễ và những xung đột sinh thái mới. Quá trình nâng tầm lễ hội từ cấp làng xã lên cấp quốc gia đã làm gia tăng khoảng 35% các hoạt động dịch vụ thương mại hóa, kéo theo hiện tượng ô nhiễm môi trường và biến tướng cờ bạc cục bộ tại hơn 60% các điểm tập trung đông người, tạo ra thách thức lớn đối với công tác bảo tồn tính nguyên gốc của không gian thiêng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự biến đổi này nằm ở biện chứng giữa nhu cầu tâm linh của cộng đồng và sự can thiệp của ý thức hệ qua từng thời kỳ lịch sử. Trong xã hội nông nghiệp cổ sơ, hội Gióng gắn liền với sự gắn kết cộng đồng thuần phác trước hiểm họa ngoại xâm và thiên tai. Đến thời kỳ phong kiến, thiết chế làng xã và hương ước đã quy phạm hóa các vai diễn, biến hội làng thành biểu tượng đạo đức của nhà nước. Trong bối cảnh đương đại, nhu cầu phát triển du lịch văn hóa tiếp tục thúc đẩy các sáng tạo mới về kịch bản và hình thức quảng bá.

Để trực quan hóa các dữ liệu này, kết quả nghiên cứu có thể được thể hiện thông qua Biểu đồ cơ cấu thành phần tham gia nghi lễ (gồm 60% người dân tham gia diễn xướng quân trận, 25% phục vụ hậu cần nghi lễ, 15% đảm nhận công tác điều hành quản lý) và Bảng ma trận đối chiếu 5 thuộc tính diễn xướng giữa các làng nhằm làm nổi bật tính sai biệt trong thể thống nhất của di sản.

So với các công trình nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thụy Loan, Lê Trung Vũ hay Kiều Thu Hoạch vốn tập trung vào miêu tả chi tiết diễn xướng hoặc định danh danh xưng anh hùng, nghiên cứu này đã tiến xa hơn khi đặt Hội Gióng vào khung lý thuyết bản thể học di sản. Kết quả khẳng định di sản văn hóa vừa thuộc về cộng đồng sở tại vừa không thuộc về họ một cách tuyệt đối, bởi nó luôn biến chuyển theo quy luật phát triển nhận thức của xã hội loài người.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa và số hóa hồ sơ khoa học di sản: Triển khai số hóa 100% tư liệu văn bản Hán Nôm, sắc phong, hương ước và kịch bản diễn xướng trận mạc tại 5 không gian lễ hội trong thời hạn 12 tháng, do Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội chủ trì phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện.

  2. Hoàn thiện quy chế quản lý không gian sinh thái văn hóa: Xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí quản lý lễ hội văn minh, giảm thiểu 80% tình trạng thương mại hóa phản cảm và xử lý triệt để 100% rác thải phát sinh trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, thời gian hoàn thành trong vòng 6 tháng trước mùa hội mới, do Ủy ban nhân dân các huyện Gia Lâm, Sóc Sơn và Thường Tín phối hợp thực hiện.

  3. Đào tạo và bồi dưỡng thế hệ nghệ nhân kế cận: Tổ chức thường niên 15 lớp tập huấn và thực hành nghi lễ truyền thống cho khoảng 300 thanh thiếu niên tại các làng cổ trong giai đoạn 2025 - 2027, do Hội đồng bô lão các làng xã phối hợp cùng Phòng Văn hóa và Thông tin địa phương trực tiếp giảng dạy.

  4. Thiết lập chuỗi liên kết du lịch di sản bền vững: Xây dựng tour du lịch văn hóa tâm linh kết nối liên hoàn 5 cụm di tích Hội Gióng, cam kết trích tối thiểu 20% nguồn thu từ dịch vụ du lịch để tái đầu tư trực tiếp vào quỹ bảo tồn và tu bổ di tích, triển khai trong lộ trình 18 tháng do Sở Du lịch Hà Nội và các đơn vị lữ hành điều phối.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Văn hóa học, Di sản học, Nhân học và Lịch sử: Luận văn cung cấp khung lý thuyết hiện tượng luận sâu sắc cùng phương pháp tiếp cận liên văn bản mẫu mực trong việc giải mã các biểu tượng lễ hội dân gian phức hợp.

  2. Cán bộ quản lý văn hóa và các nhà hoạch định chính sách cấp trung ương và địa phương: Tài liệu mang lại cái nhìn toàn diện về thực trạng chuyển hóa di sản từ hương lễ sang quốc lễ, từ đó xây dựng các chính sách quản lý cân bằng giữa bảo tồn bản sắc và khai thác kinh tế du lịch.

  3. Ban quản lý di tích, chính quyền cơ sở và các cộng đồng chủ thể nắm giữ di sản: Cung cấp tài liệu hướng dẫn chuẩn hóa kịch bản nghi lễ, phương thức quản lý không gian thiêng và giải pháp nâng cao ý thức tự giác bảo vệ di sản của người dân bản địa.

  4. Các chuyên gia phát triển sản phẩm du lịch và truyền thông văn hóa: Nắm bắt hệ thống giá trị biểu tượng độc đáo và tính liên hoàn không gian của 5 điểm lễ hội để xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm di sản đặc sắc tại vùng kinh đô Thăng Long - Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao Hội Gióng lại được xem là một chỉnh thể liên hoàn giữa nhiều không gian lễ hội khác nhau? Bởi vì Hội Gióng không tồn tại đơn lẻ tại một ngôi làng mà phân bổ tại 5 không gian văn hóa gồm Phù Đổng, Sóc Sơn, Lệ Chi, Xuân Đỉnh và Đổng Xuyên. Mỗi làng tái hiện một lát cắt trong toàn bộ chiến công đánh giặc và trị thủy của Thánh Gióng, tạo nên một chuỗi thực hành nghi lễ liên hoàn về cả thời gian và không gian.

  2. Luận văn vận dụng lý thuyết của Heidegger như thế nào để giải thích tính thời gian của di sản? Luận văn áp dụng luận điểm của Heidegger để khẳng định di sản văn hóa dù bắt nguồn từ quá khứ nhưng giá trị sống còn nằm ở tính hiện tại. Di sản chỉ thực sự tồn tại khi con người hiện tại tiếp nhận, cảm thụ và tái cấu trúc ý nghĩa của nó để phục vụ cho các nhu cầu tâm linh và giáo dục đương thời.

  3. Dấu mốc lịch sử năm 981 có ý nghĩa như thế nào đối với sự chuyển hóa của Hội Gióng? Năm 981, sau khi đánh thắng quân Tống, vua Lê Hoàn đã phong tặng 3 tước hiệu cao quý cho Thánh Gióng. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của Hội Gióng từ một lễ hội thôn dã thuần túy của cư dân nông nghiệp trở thành quốc lễ được triều đình phong kiến bảo trợ và lan tỏa rộng khắp.

  4. Phương pháp chọn mẫu và nghiên cứu điền dã của luận văn có điểm gì nổi bật? Luận văn thực hiện chọn mẫu có chủ đích với quy mô 120 mẫu phỏng vấn sâu, bao gồm đại diện của 3 nhóm chủ thể then chốt: nghệ nhân tế lễ, người trực tiếp tham gia diễn xướng và khách hành hương. Quá trình khảo sát được tiến hành liên tục suốt 24 tháng qua 2 mùa hội để đảm bảo dữ liệu khách quan, toàn diện.

  5. Giải pháp nào mang tính đột phá để ngăn chặn tình trạng thương mại hóa tại Hội Gióng? Giải pháp đột phá là thiết lập mô hình kinh tế di sản tuần hoàn, chuẩn hóa không gian diễn xướng thiêng và trích 20% doanh thu dịch vụ du lịch tái đầu tư cho cộng đồng bản địa. Điều này giúp người dân duy trì vai trò chủ thể tự giác bảo vệ di sản thay vì bị cuốn vào các hoạt động trục lợi ngắn hạn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và giải mã thành công giá trị của Hội Gióng như một chỉnh thể không gian - thời gian liên hoàn gồm 5 điểm di tích đặc thù tại đồng bằng Bắc Bộ.
  • Vận dụng sáng tạo lý thuyết Hiện sinh của Heidegger và Biện chứng pháp của Hegel để chứng minh tính thời gian ba chiều cùng năng lực sáng tạo liên tục của chủ thể tiếp nhận di sản.
  • Làm sáng tỏ quy luật chuyển biến mang tính lịch sử từ hương lễ nông nghiệp sơ kỳ sang quốc lễ mang chuẩn mực đạo đức Trung - Hiếu, Nhân - Nghĩa của nhà nước phong kiến.
  • Chỉ rõ các thách thức hiện đại hóa khi mức độ thương mại hóa gia tăng khoảng 35%, đồng thời đề xuất khung đánh giá trực quan qua biểu đồ và bảng đối chiếu đa chiều.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược và lộ trình thực thi từ năm 2025 đến năm 2027 nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản bền vững.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xác lập phương pháp tiếp cận di sản học liên ngành, kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn bản học Hán Nôm và điền dã nhân học văn hóa. Trong 12 tháng tiếp theo, nghiên cứu sẽ tiếp tục mở rộng khảo sát các biến thể diễn xướng dân gian tại các vùng phụ cận. Kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý và độc giả cùng tham khảo, đóng góp ý kiến để hoàn thiện mô hình bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc trong kỷ nguyên mới.