Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu di tích lịch sử Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng giữ vị trí trung tâm trong đời sống tâm linh của người Việt, là biểu tượng cho khối đại đoàn kết dân tộc và truyền thống hướng về cội nguồn dựng nước. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương bắt nguồn từ đạo lý tưởng nhớ tổ tiên, gắn liền với huyền thoại lập quốc và ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 âm lịch.
Về mặt địa bàn cư trú và thực hành văn hóa, xã Hy Cương (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) giữ vai trò lịch sử đặc biệt. Từ các triều đại phong kiến, vùng đất này đã được giao trọng trách làm "xã trưởng tạo lệ" nhằm trông nom, gìn giữ, tôn tạo và tổ chức các nghi lễ tín ngưỡng tại Đền Hùng. Mặc dù Đền Hùng là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu học thuật, tác giả nhận thấy các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở các khía cạnh:
- Niên đại, văn minh và lịch sử dựng nước (bộ sách Hùng Vương dựng nước gồm 4 tập xuất bản từ năm 1970 đến 1974; công trình của Văn Tâm năm 1973).
- Cảnh quan, khảo cổ và kiến trúc thờ tự (Phạm Bá Khiêm năm 2000; Vũ Kim Biên năm 2010; Lê Tượng và Phạm Hoàng Oanh năm 2010).
- Tập hợp nghiên cứu về tâm thức nguồn cội (Lê Lựu chủ biên năm 2005).
- Khai thác tiềm năng du lịch ở quy mô vĩ mô hoặc các báo cáo khoa học bước đầu (Phạm Thị Ngọc Mai năm 2006; Nguyễn Thị Bích và Vũ Chí Cường năm 2007).
Khoảng trống học thuật đặt ra là chưa có công trình nào đi sâu khảo sát thực chứng tác động tương hỗ giữa di tích Đền Hùng với đời sống kinh tế và sinh hoạt tín ngưỡng của chính cộng đồng cư dân sở tại ở xã Hy Cương.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm hai nội dung:
- Tìm hiểu lịch sử và các giá trị văn hóa của khu di tích Đền Hùng.
- Khảo sát, đánh giá mức độ ảnh hưởng của Đền Hùng về mặt kinh tế và tín ngưỡng đối với người dân xã Hy Cương.
Đối tượng nghiên cứu là di tích Đền Hùng trong mối quan hệ với đời sống người dân bản địa. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian giới hạn trong địa giới hành chính xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; dữ liệu khảo sát và thống kê kinh tế - xã hội tập trung vào giai đoạn 2008 - 2009.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học, địa văn hóa và xã hội học văn hóa, đặt di sản trong mối liên hệ hữu cơ với cộng đồng cư dân đóng vai trò chủ thể gìn giữ di sản. Khung phân tích làm rõ hai phương diện: sự chuyển dịch sinh kế kinh tế (từ thuần nông sang kinh tế dịch vụ du lịch tâm linh) và mức độ bảo lưu, thực hành các giá trị tín ngưỡng dân gian truyền thống.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng gồm:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản: Thu thập, phân tích, đối chiếu các nguồn tư liệu thư tịch lịch sử, truyền thuyết, văn bia thời Nguyễn gắn tại các di tích, bản ngọc phả soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1470) và các báo cáo thống kê hành chính, kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân xã Hy Cương cùng Ban quản lý khu di tích lịch sử Đền Hùng.
- Phương pháp điền dã: Quan sát trực tiếp cảnh quan, kiến trúc, hoạt động kinh doanh buôn bán, hoạt động tác nghiệp của thợ ảnh, dịch vụ vận chuyển và các sinh hoạt tín ngưỡng tại các đền, đình, chùa trên địa bàn.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi cấu trúc để thu thập dữ liệu định lượng và định tính từ cộng đồng cư dân. Bảng hỏi khảo sát 60 đối tượng, thu về 55 phiếu hợp lệ, chia thành 3 nhóm: học sinh, người già và người trung tuổi.
- Phương pháp thống kê xã hội học: Xử lý, phân loại, tổng hợp số liệu điều tra bảng hỏi kết hợp với số liệu thống kê kinh tế - nông nghiệp của địa phương để rút ra các nhận định khoa học.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các công trình lịch sử - khảo cổ học, số liệu thống kê năm 2008 - 2009 của UBND xã Hy Cương, số liệu quản lý của Ban quản lý khu di tích Đền Hùng và dữ liệu sơ cấp từ đợt điều tra xã hội học tại thực địa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát vùng văn hóa Phú Thọ và khu di tích lịch sử Đền Hùng
Chương 1 hệ thống hóa các đặc trưng địa lý, tiến trình lịch sử và không gian văn hóa của tỉnh Phú Thọ, xã Hy Cương cùng quần thể di tích Đền Hùng:
- Phú Thọ - Vùng đất định cư và văn hóa cổ: Tỉnh nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, nơi hợp lưu của ba con sông (sông Thao, sông Đà, sông Lô), là trung tâm sinh tụ của người Việt cổ với các nền văn hóa khảo cổ liên tục từ thời đại đồ đá đến đồ đồng: Sơn Vi (di chỉ hang Ngựa), Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến Đông Sơn. Đây là địa bàn trung tâm của nhà nước Văn Lang gồm 15 bộ lạc, dân số ước tính đương thời khoảng 1 triệu người. Phú Thọ còn lưu giữ hơn 200 di tích lịch sử và hệ thống lễ hội phong phú gắn liền với nông nghiệp và thời đại Hùng Vương (lễ hội Chu Hóa mùng 5 tháng Giêng tưởng nhớ ba tướng Cả Đông, Nhị Đông, Tam Đông; hội đền Mẫu Âu Cơ; hội Bạch Hạc; hội Phết Hiền Quang; hội mở cửa rừng Thanh Sơn...).
- Địa bàn xã Hy Cương: Xã miền núi có 80% diện tích là đồi gò, tổng diện tích tự nhiên là 702,98 ha, dân số 4.600 người (năm 2009), chia thành 8 khu hành chính (từ khu 1 đến khu 8). Không gian địa lý nổi bật với cụm "Tam sơn cấm địa": núi Nghĩa Lĩnh (núi Hùng, cao 175m), núi Vặn (Ốc Sơn, cao 170m), núi Trọc (cao 145m) và núi Nỏn (cao 105m). Lịch sử địa danh xã trải qua nhiều biến đổi hành chính từ huyện Chu Diên (thời Hùng Vương), huyện Sơn Vi (thời Trần, Lê, Nguyễn), tổng Xuân Lũng, xã Hùng Sơn (1945), xã Phong Châu (1946), xã Hy Cương thuộc huyện Lâm Thao, sau đó sáp nhập vào thành phố Việt Trì năm 2007.
- Quần thể di tích Đền Hùng: Khu di tích có diện tích tự nhiên trên 1.000 ha. Quá trình tôn tạo và cấu trúc kiến trúc hiện nay phản ánh dấu ấn thời Hậu Lê và thời Nguyễn:
- Cổng đền: Xây dựng năm Khải Định thứ 2 (1917), cao 8,5m, kết cấu vòm cuốn 2 tầng 8 mái, đắp bức đại tự "Cao Sơn cảnh hành".
- Đền Hạ: Xây dựng lại vào thế kỷ XVII - XVIII theo kiểu chữ "Nhị" (二), gồm tiền bái và hậu cung, thờ ba vị Thánh vương (Ất Sơn, Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn) và hai công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa.
- Nhà bia: Kiến trúc lục giác 6 mái dựng năm 1917, nay đặt bia đá khắc lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/9/1954: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".
- Chùa Thiên Quang: Khởi dựng thời Trần với tên "Viễn Sơn cổ tự", thế kỷ XV đổi thành "Thiên Quang thiền tự", năm 1850 xây lại kiểu chữ "Công" (工); khuôn viên có gác chuông thế kỷ XVII lưu giữ 3 bia đá và 2 tháp sư hình trụ 4 tầng.
- Đền Trung (Hùng Vương tổ miếu): Kiến trúc chữ "Nhất" (一), tương truyền là nơi họp bàn việc nước và nơi Lang Liêu dâng bánh chưng, bánh giầy; lưu giữ 3 bức hoành phi cổ.
- Đền Thượng và Lăng Hùng Vương: Tọa lạc trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh; đền xây kiểu chữ "Vương" (王) qua 4 cấp nền; Lăng mộ Vua Hùng thứ 6 xây hình hộp chữ nhật (1,3m x 1,8m x 1m); cột đá thề vuông (cạnh 0,3m); nhà quan cư gắn 5 văn bia chữ Hán thời Nguyễn (1914, 1923, 1940...).
- Đền Giếng (Ngọc Tỉnh): Xây dựng thế kỷ XVIII kiểu chữ "Công" (工), thờ hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa.
- Các công trình xây dựng mới: Đền Mẫu Âu Cơ trên núi Vặn (khánh thành tháng 12/2004, diện tích đền chính 137m²); Bảo tàng Hùng Vương (trưng bày hơn 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 3.000 hiện vật, 162 bức ảnh, tranh sơn mài, gò đồng); Đền thờ Quốc tổ Lạc Long Quân tại đồi Sim (khởi công ngày 26/3/2007, khánh thành ngày 29/3/2009, diện tích 13,79 ha).
Chương 2: Đền Hùng trong đời sống kinh tế của người dân xã Hy Cương – Việt Trì – Phú Thọ
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng kinh tế địa phương và sự chuyển đổi sinh kế của các nhóm dân cư ăn theo hoạt động du lịch - lễ hội tại Đền Hùng:
- Bức tranh kinh tế tổng thể xã Hy Cương (năm 2008 - 2009): Toàn xã có 1.778 nhà ở hộ dân cư. Cơ cấu sử dụng đất gồm 314,05 ha đất nông - lâm - thủy sản; 186,73 ha đất lâm nghiệp; 197,20 ha đất phi nông nghiệp; có 3 trang trại. Cơ cấu nghề nghiệp: 890 hộ nông nghiệp với 2.920 lao động (chiếm khoảng 80%); 228 hộ phi nông nghiệp với 367 lao động (chiếm 20%). Trong khối phi nông nghiệp, nhóm làm dịch vụ chiếm ưu thế với 147 hộ trên tổng số 228 hộ (tỷ lệ 64%).
- Sản xuất nông nghiệp: Năm 2009, diện tích gieo trồng cây lúa đạt 169 ha (giảm 8 ha so với mức 177 ha năm 2008, chiếm 61% diện tích trồng trọt); ngô 45 ha; rau các loại 25 ha; dưa chuột 10 ha; đỗ 8 ha; chè 8 ha; hoài sơn 7 ha; mía 3 ha; lạc 2 ha. Chăn nuôi ghi nhận đàn trâu 63 con; bò 700 con (giảm so với 734 con năm 2008); lợn 2.550 con (tăng so với 1.982 con năm 2008); đàn gia cầm 65.000 con; diện tích nuôi thả cá 15,6 ha. Mức lương thực bình quân đạt 200 kg/người/năm (giảm 20 kg so với năm 2008). Mặc dù sản lượng nông nghiệp giảm nhưng tổng thu nhập toàn xã tăng lên, phản ánh xu thế chuyển dịch sang dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp.
| Chỉ tiêu kinh tế - xã hội |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
| Diện tích cây lúa |
177 ha |
169 ha |
| Đàn trâu |
63 con |
63 con |
| Đàn bò |
734 con |
700 con |
| Đàn lợn |
1.982 con |
2.550 con |
| Đàn gia cầm |
- |
65.000 con |
| Lương thực bình quân |
220 kg/người/năm |
200 kg/người/năm |
| Hộ nông nghiệp / lao động |
- |
890 hộ / 2.920 người |
| Hộ phi nông nghiệp / lao động |
- |
228 hộ / 367 người |
| Hộ làm dịch vụ |
- |
147 hộ (chiếm 64% phi nông nghiệp) |
- Khảo sát các nhóm dịch vụ dân sinh quanh Đền Hùng:
- Nhóm bán hàng: Ban quản lý ghi nhận 33 quầy hàng cố định hoạt động quanh năm và khoảng 50 quầy hàng tạm thời kinh doanh trong dịp Tết và mùa lễ hội (từ 23 tháng Chạp đến hết tháng Ba âm lịch). Hàng hóa phong phú gồm đặc sản ẩm thực (bánh củ mài Cổ Tích, chuối khô đất Tổ, thịt chua Thanh Sơn, chè lam, bánh cốm...), đồ thờ cúng (tiền vàng, hương), đồ lưu niệm và giải khát. Người bán hàng chủ yếu là nông dân kiêm tiểu thương ("vừa tiểu nông vừa tiểu thương"), buôn bán tự phát, quy mô manh mún, còn hiện tượng nâng giá bán lẻ (nước giải khát tăng từ 7.000đ lên 10.000đ, sữa tươi tăng từ 5.000đ lên 6.000đ, vòng tay nhựa 7.000đ - 10.000đ) và bán hàng rong chèo kéo. Thu nhập bình quân của người bán hàng đạt khoảng 1.000.000 đồng/người/tháng, trở thành nguồn thu nhập chính giúp nhiều gia đình cải thiện đời sống (như hộ ông Triệu Văn Liên xây được nhà 2 tầng kiên cố).
- Nhóm thợ ảnh: Năm 2009 có 124 thợ ảnh đăng ký hoạt động dưới sự quản lý của Ban quản lý khu di tích, mức thu nhập bình quân khoảng 1.600.000 đồng/người/tháng.
- Dịch vụ lưu trú và vận tải: Xuất hiện các điểm cho thuê nhà trọ gia đình phục vụ khách lưu trú trong dịp hội với giá 20.000 - 50.000 đồng/người/ngày; các dịch vụ xe ôm tự do và tuyến vận chuyển bằng 8 xe điện loại 12 chỗ do Ban quản lý vận hành kết nối các điểm di tích.
- Lực lượng lao động trong Ban quản lý Đền Hùng: Cơ cấu tổ chức gồm 7 phòng ban chuyên môn (Trung tâm du lịch dịch vụ, Phòng quản lý du lịch dịch vụ, Phòng quản lý rừng, Phòng tổ chức hành chính, Phòng kế hoạch tài vụ, Phòng bảo vệ an ninh trật tự, Phòng bảo tàng di tích) với gần 300 cán bộ, nhân viên. Tổng số người tham gia phục vụ trực tiếp tại khu di tích là trên 500 người, trong đó người dân xã Hy Cương chiếm khoảng 70%. Bên cạnh đó, tục cử 4 "ông Từ" trông coi 4 ngôi đền cổ (Thượng, Trung, Hạ, Giếng) thông qua hình thức thi tuyển hằng năm vẫn được duy trì từ các làng gốc.
Chương 3: Đền Hùng trong đời sống tín ngưỡng của người dân xã Hy Cương – Việt Trì – Phú Thọ
Chương 3 khảo sát hệ thống di tích làng xã và đo lường mức độ nhận thức, thực hành tín ngưỡng của người dân địa phương thông qua điều tra xã hội học:
- Hệ thống di tích bản địa gắn với Đền Hùng:
- Đình Cổ Tích (Đình Hy Cương / Đình Cả): Tọa lạc tại gò làng Cả, tương truyền dựng vào thời Lê Trung Hưng sau khi nhân dân tôn tạo lại Đền Trung. Thượng lương đình ghi dựng vào năm Mậu Ngọ. Đình còn bảo lưu cuốn ngọc phả soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1470) của Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyễn Cố ghi chép hành trạng các Vua Hùng và tướng lĩnh. Đình thờ Vua Hùng và thần núi Cao Sơn.
- Chùa Am Đường (Chùa Tổ): Nơi khởi đầu là am thờ Tổ sư, sau rước Phật về thờ, trở thành không gian sinh hoạt tâm linh định kỳ vào ngày rằm, mồng một của dân làng.
- Kết quả điều tra xã hội học (55 phiếu hợp lệ trên 3 nhóm đối tượng):
- Tần suất đi Đền Hùng (Câu 1): 100% đối tượng thuộc cả 3 nhóm (học sinh: 20/20, người già: 20/20, người trung tuổi: 20/20) đều đến Đền Hùng nhiều hơn 5 lần, chứng minh Đền Hùng gắn chặt với sinh hoạt đời thường.
- Thời điểm đi Đền Hùng (Câu 2): Người già đi nhiều nhất vào dịp lễ hội (75%) và ngày rằm/mồng một (75%); học sinh đi vào ngày rằm/mồng một chiếm 45%, dịp lễ hội 20%, các dịp quan trọng 25%; người trung tuổi đi vào ngày rằm/mồng một chiếm 60%, dịp lễ hội 15%, dịp khác 20%.
- Mức độ nhận biết cấu trúc quần thể di tích (Câu 3): Đa số người dân nhận biết đầy đủ các điểm di tích trong quần thể (kể cả các công trình mới như Đền Mẫu Âu Cơ, Đền Lạc Long Quân, chùa Am Đường): học sinh đạt 75% (15/20 người), người già đạt 65% (13/20 người), người trung tuổi đạt 85% (17/20 người).
- Hiểu biết về đối tượng thờ tự và sự tích (Câu 4, 5, 6, 7):
- Về sự tích Đền Trung: 55% học sinh, 55% người già và 45% người trung tuổi xác định đây là nơi Vua Hùng họp bàn việc nước với Lạc hầu, Lạc tướng; tỷ lệ nắm được sự tích Lang Liêu dâng bánh lần lượt là 15% (học sinh), 30% (người già), 20% (người trung tuổi).
- Về đối tượng thờ tự tại Đền Hạ: Tỷ lệ chọn đáp án thờ Vua Hùng/thần linh đạt 80% - 90% ở các nhóm lứa tuổi.
- Về đối tượng thờ tự tại Đền Giếng: Cư dân nhận diện chính xác nơi thờ hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa.
| Nhóm đối tượng |
Tần suất đi > 5 lần (Câu 1) |
Đi ngày rằm / mồng một (Câu 2) |
Đi dịp lễ hội Đền Hùng (Câu 2) |
Nhận biết đầy đủ di tích (Câu 3) |
| Học sinh (n=20) |
100% (20/20) |
45% (9/20) |
20% (4/20) |
75% (15/20) |
| Người già (n=20) |
100% (20/20) |
75% (15/20) |
75% (15/20) |
65% (13/20) |
| Người trung tuổi (n=15) |
100% (15/15) |
60% (12/15) |
15% (3/15) |
85% (17/20 quy đổi) |
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp thực tiễn sau:
- Xác lập thực trạng chuyển dịch kinh tế sinh kế: Làm rõ bức tranh chuyển đổi kinh tế tại xã Hy Cương dưới tác động của Đền Hùng. Từ một xã thuần nông đồi gò gặp nhiều khó khăn, địa phương đã hình thành bộ phận kinh tế dịch vụ chiếm 64% số hộ phi nông nghiệp. Khu di tích tạo việc làm trực tiếp cho hơn 500 lao động (trong đó 70% cán bộ, nhân viên Ban quản lý là người bản địa), 124 thợ ảnh, 33 quầy hàng cố định, 50 quầy hàng thời vụ và hàng trăm hộ làm dịch vụ nhà trọ, xe ôm.
- Chỉ ra những hạn chế của hoạt động kinh tế dịch vụ tự phát: Phân tích rõ tính chất hai mặt của đội ngũ tiểu thương địa phương ("vừa tiểu nông vừa tiểu thương"). Do không qua đào tạo chuyên môn, phương thức buôn bán còn mang nặng tư duy mùa vụ, manh mún, dẫn đến tình trạng chèo kéo khách, nói thách, nâng giá bán và chưa đảm bảo tốt vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm.
- Lượng hóa mức độ gắn kết tâm linh qua điều tra xã hội học: Chứng minh Đền Hùng không chỉ là biểu tượng thiêng liêng ở tầm quốc gia mà còn là không gian văn hóa bản địa thân thuộc đối với người dân Hy Cương (100% người khảo sát đến di tích trên 5 lần; tỷ lệ nhận thức chính xác các điển tích và đối tượng thờ tự đạt từ 65% đến 85%).
- Đóng góp khoa học: Đây là công trình chuyên sâu đầu tiên khảo sát trực tiếp mối quan hệ hai chiều giữa di tích lịch sử Đền Hùng với đời sống kinh tế và sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân xã Hy Cương, bổ sung nguồn dữ liệu thực chứng cho ngành quản lý văn hóa và địa phương học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn nhỏ (phát ra 60 phiếu, thu về 55 phiếu hợp lệ) do điều kiện thực hiện của một khóa luận tốt nghiệp; phạm vi nghiên cứu chỉ khu biệt trong địa giới hành chính xã Hy Cương, chưa mở rộng so sánh với các xã lân cận trong vùng đệm của khu di tích (như Chu Hóa, Tiên Kiên, Phù Ninh). Dữ liệu phản ánh hiện trạng ở thời điểm năm 2008 - 2009.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn khảo sát sang toàn bộ vùng không gian văn hóa phụ cận Đền Hùng; tăng cường dung lượng mẫu điều tra xã hội học; nghiên cứu sâu các mô hình liên kết đào tạo văn hóa kinh doanh, chuẩn hóa dịch vụ du lịch cộng đồng cho cư dân vùng di sản.
Giá trị tham khảo
Công trình là nguồn tài liệu hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Việt Nam học, Quản lý văn hóa, Lịch sử văn hóa và Xã hội học văn hóa khi tìm hiểu về di sản Đền Hùng và sự tương tác giữa di sản văn hóa với sinh kế cộng đồng bản địa.
- Ban quản lý khu di tích lịch sử Đền Hùng và chính quyền thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong việc tham khảo dữ liệu thực tế để xây dựng quy hoạch không gian dịch vụ, quản lý giá cả, tập huấn văn hóa ứng xử du lịch cho cư dân sở tại và bảo tồn các giá trị tín ngưỡng truyền thống.
- Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm hệ thống tổng hợp kiến trúc văn bia - ngọc phả tại Đền Hùng và đình Cổ Tích, số liệu cơ cấu kinh tế - lao động của xã Hy Cương năm 2009 và bảng kết quả khảo sát nhận thức tín ngưỡng của 3 nhóm lứa tuổi.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao xã Hy Cương có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc gìn giữ Đền Hùng qua các thời kỳ lịch sử?
Xã Hy Cương là nơi tọa lạc của cụm núi thiêng Nghĩa Lĩnh và quần thể Đền Hùng. Từ thời phong kiến, các triều đại đã chính thức giao cho làng Cổ Tích (xã Hy Cương) làm "xã trưởng tạo lệ" để trông nom lăng miếu, phụng thờ các Vua Hùng và chuẩn bị các nghi thức quốc lễ. Đình Cổ Tích tại xã hiện vẫn lưu giữ cuốn ngọc phả soạn từ năm Hồng Đức thứ nhất (1470).
2. Khu di tích lịch sử Đền Hùng tạo việc làm cho bao nhiêu lao động địa phương và cơ cấu ra sao?
Khu di tích có hơn 500 người phục vụ trực tiếp, bao gồm gần 300 cán bộ, nhân viên thuộc 7 phòng ban chuyên môn của Ban quản lý (trong đó khoảng 70% là người dân xã Hy Cương), 124 thợ ảnh có đăng ký quản lý, 33 quầy hàng cố định, 50 quầy hàng thời vụ cùng các hộ làm dịch vụ nhà trọ, xe ôm, xe điện.
3. Khóa luận ghi nhận những tồn tại gì trong hoạt động kinh doanh dịch vụ của người dân quanh Đền Hùng?
Hoạt động buôn bán của người dân mang tính tự phát, manh mún do tâm lý "vừa tiểu nông vừa tiểu thương", thiếu kỹ năng kinh doanh chuyên nghiệp. Xuất hiện tình trạng nâng giá hàng hóa (nước giải khát, sữa tươi, vòng lưu niệm), bán hàng rong chèo kéo khách trong mùa lễ hội và vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại các quầy đồ uống tự chế.
4. Kết quả khảo sát xã hội học cho thấy mức độ gắn bó tâm linh của người dân Hy Cương với Đền Hùng như thế nào?
Kết quả khảo sát 55 người thuộc 3 thế hệ (học sinh, người già, người trung tuổi) cho thấy 100% người được hỏi từng đến Đền Hùng trên 5 lần. Người già duy trì thói quen đi lễ vào dịp hội và ngày rằm, mồng một (75%); tỷ lệ nhận biết chính xác cấu trúc các di tích và hiểu đúng đối tượng thờ tự, sự tích tại các đền đạt từ 65% đến 85%.
5. Ngày Quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch được chính thức ấn định từ thời điểm nào?
Theo tư liệu lịch sử được tác giả trình bày, vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã dâng tờ trình xin Bộ Lễ triều Nguyễn ấn định ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch làm ngày Quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (trước ngày húy nhật một ngày), để ngày 11 dành cho nhân dân sở tại làm lễ.
Kết luận
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, kiến trúc, văn bia và không gian văn hóa của khu di tích lịch sử Đền Hùng gắn với vùng đất cổ Phú Thọ. Bằng phương pháp nghiên cứu văn bản kết hợp khảo sát điền dã và điều tra xã hội học thực chứng tại xã Hy Cương, tác giả đã làm rõ tác động sâu sắc của Đền Hùng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế dịch vụ, nâng cao thu nhập cho cư dân bản địa, đồng thời khẳng định vị trí trung tâm của di sản trong đời sống tín ngưỡng thường nhật của cộng đồng. Các số liệu và phát hiện của công trình cung cấp cơ sở thực tế có giá trị cho công tác quản lý di tích và quy hoạch hoạt động du lịch văn hóa bền vững tại địa phương.