Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT LANG CHÁNH 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí Huyện Lang Chánh nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa.
Thị trấn Lang Chánh cách thành phố Thanh Hóa 101 km. Lãnh thổ Lang Chánh có dạng gần như lá cờ tổ quốc gắn vào kinh tuyến 105000 Đ đang tung bay vẫy gọi tiến độ đầu tư sức người, trí tuệ, vốn và kỹ thuật - công nghệ từ các lãnh thổ phát triển khác đến khai thác tiềm năng của Lang Chánh nói riêng và miền Tây của tỉnh Thanh Hóa nói chung. Theo số liệu của Sở tài nguyên và môi trường Thanh Hóa, đến ngày 01/01/2020, diện tích tự nhiên của huyện Lang Chánh là 58,631 ha, chiếm 5,26% diện tích tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa và là huyện có diện tích rộng thứ 8 của tỉnh Thanh Hóa, sau các huyện: Thường Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Như Thanh và Bá Thước. Hiện nay, Lang Chánh có 9 xã và một thị trấn: Yên Khương, Yên Thắng, Lâm Phú, Tam Văn, Trí Nang, Giao An, Giao Thiện, Tân Phúc, Đồng Lương và thị trấn Lang Chánh.
Số lượng xã, thị trấn không nhiều nên có những thuận lợi cho việc quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội của bộ máy hành chính của huyện. Vị trí địa lý của huyện Lang Chánh như sau: Phía tây nam, Lang Chánh giáp huyện Sầm Tớ (tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) trên tuyến biên giới dài 7 km và chạy trên khu vực núi cao 1000 m. Phía tây và tây bắc giáp huyện Quan Sơn với đường địa giới cũng là đường chia nước giữa hệ thống sông Âm (tức sông Um) và hệ thống sông Lò Phía bắc giáp huyện Bá Thước Phía đông giáp huyện Ngọc Lặc với đường địa giới gần trùng với thung lũng sông Âm. 8 Phía nam giáp huyện Thường Xuân với đường địa giới chạy trên đường chia nước giữa hệ thống sông Âm và hệ thống sông Khao [22; tr 246-256].
Với vị trí địa lý này, Lang Chánh có điều kiện giao lưu thuận lợi với các lãnh thổ khác thông qua quốc lộ 15A và đường Hồ Chí Minh. Khoảng cách từ thị trấn Lang Chánh theo hướng đông nam tới đường Hồ Chí Minh khoảng 17 km. Thông qua tuyến đường Hồ Chí Minh, huyện Lang Chánh có thể giao lưu thuận lợi với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, với cảng biển và khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn và các vùng phát triển khác trong nước. Theo quốc lộ 15A, Lang Chánh có thể giao lưu được với tỉnh Hòa Bình và các tỉnh Tây Bắc.
Thị trấn Lang Chánh chỉ cách quốc lộ 217 khoảng 25 km về phía bắc theo quốc lộ 15A và 30 km theo tuyến đường thị trấn Lang Chánh - Lâm Phú - Trung Hạ (huyện Quan Sơn). Nhờ vậy Lang Chánh còn có thể giao lưu với nước bạn Lào và các huyện phía bắc và phía tây Thanh Hóa. Các tuyến đường trên cũng cho phép huyện giao lưu thuận lợi với các địa phương khác trong tỉnh. Vị trí địa lý như trên cũng tạo cho vùng đất Lang Chánh trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc trở thành điểm hẹn của các dòng người từ nhiều lãnh thổ khác di cư đến, mang theo những sắc thái văn hóa, những kinh nghiệm sản xuất đa dạng hội tụ về đây khai phá, lập nghiệp, sinh sống và cùng hòa nhập, giao lưu.
Điều kiện tự nhiên 1. Địa hình Địa hình tạo nên nét độc đáo của Lang Chánh và ngày nay, nó đang mở ra nhiều cơ hội để huyện Lang Chánh khai thác những tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của huyện. Bề mặt địa hình là nơi gặp gỡ, tiếp xúc của các hợp phần tự nhiên, vì thế sự phân hoá của địa hình là nguyên nhân làm cho tự nhiên phân hóa phức tạp theo lãnh thổ. Bề mặt địa hình cũng là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động cư trú, sinh hoạt và sản xuất của con người.
Vì vậy, đặc điểm của địa hình và 9 khác biệt theo lãnh thổ của nó có tác động rất quan trọng đối với việc phát triển và phân bố các hoạt động kinh tế - xã hội của huyện Lang Chánh. Mặc dù lãnh thổ không lớn lắm, nhưng Lang Chánh cũng có bốn khu vực địa hình với những đặc điểm khác nhau: - Khu vực đồi thấp phía đông nam Khu vực này phân bố ở các xã: Đồng Lương, phần đông của các xã Giao An, Giao Thiện, đông nam xã Tân Phúc và đông bắc xã Trí Nang. Địa hình của khu vực này bao gồm các dạng đồi thấp bào mòn - xâm thực hình thành tại khu vực tân kiến tạo nâng lên yếu, xen các thung lũng xâm thực - bồi tụ tương đối rộng, đôi chỗ bị đầm lầy hóa cục bộ. Từ đông sang tây, trong nền địa chất ta gặp tập nham cuội kết, cát kết có cấu trúc như một nền kiến tạo nằm giữa đới phức nếp lồi sông Mã và đới võng chồng Sầm Nưa.
Tuổi của chúng là T2a (Triat trung Anzini). Tiếp theo về phía tây là tập nham cát kết, bột kết, phiến xerixit màu đen, cát kết quăczit có tuổi Si lua thượng - Đề vôn hạ [22; tr 32-34]. Độ cao tuyệt đối trung bình của khu vực này đạt 100 - 200 m. Mật độ chia cắt sâu 100 - 150 m và mật độ chia cắt dày dao động trong khoảng 0,7 - 1,1 km/km2.
Trắc diện phổ biến của địa hình khu vực này là đỉnh tròn, sườn thoải, thung lũng rộng, đôi chỗ bị ngập nước, thậm chí bị lầy hóa. Các quá trình địa mạo chủ yếu là xói mòn, rửa trôi, bào mòn - xâm thực. Khu vực này ít gây trở ngại cho các hoạt động cư trú, lâm nghiệp, giao thông và nông nghiệp. - Khu vực đồi cao chân núi Pù Rinh Phân bố ở phần trung và hạ du của lưu vực sông Cảy, sông Sạo và nằm trong khu vực nửa tây nam của xã Giao An, đông bắc xã Trí Nang và phần phía tây của xã Giao Thiện, Giao An.
Địa hình ở đây thấp dần từ tây xuống thung lũng sông Âm. Độ cao trung bình 400 - 470 m. Mật độ chia cắt sâu là 300 - 350 m. Mật độ chia cắt dày là 1,2 km/km2.
Đặc điểm nổi bật của địa hình ở đây là sự lặp lại nhiều lần 10 của dạng địa hình đồi cao bào mòn - xâm thực và các thung lũng xâm thực - bồi tụ. Nền địa chất của nó bao gồm các đá macma, có tuổi Triat nằm ở phía tây, phần còn lại là tập nham cát kết, cuội kết tuổi T2a (Triat trung Anzini). Các quá trình địa mạo chủ yếu là bào mòn, xâm thực, mương xói, khe rãnh, rửa xói, rửa trôi, đôi chỗ là quá trình caxtơ và các quá trình trượt đất, lũ quét, lũ bùn đá. Khu vực này chủ yếu dành cho hoạt động lâm nghiệp, du lịch.
Tại các bồn địa (chẳng hạn bồn địa bản Năng Cát - xã Trí Nang) hay các thung lũng sông Cảy, sông Âm, sông Sạo có thể tiến hành trồng lúa nước, ngô, sắn và các cây ăn quả. - Khu vực núi thấp Pù Rinh Khu vực núi thấp này bao gồm xã Yên Khương, Yên Thắng, phần tây nam của xã Tam Văn, phần tây của xã Trí Nang, Giao An và phần cực tây bắc của xã Giao Thiện, Giao An. Đặc điểm nổi bật của địa hình ở đây là có hàng loạt đỉnh núi cao trên 1000 m: Pù Rinh (A) cao 1291 m, Pù Rinh (B) cao 1180 m và Pù Rinh (C) cao 1183 m. và chính các đỉnh núi cao này đã tạo nên “nóc nhà” của Lang Chánh.
Các đỉnh này là những đỉnh nhô của khối mac ma Pù Rinh và Trí Nang được cấu tạo bởi granođiôrit, granit biôtit có amfibon và granit granôfia. Khối này xuyên qua khối đá mafit khối Trí Nang ở phía đông bắc và xuyên qua lớp trầm tích núi lửa T2a ở phía nam. Phần còn lại thống trị kiểu địa hình núi thấp uốn nếp khối tảng thung lũng hẹp, hình thành tại khu vực tân kiến tạo nâng lên trung bình. Chúng bị quá trình xâm thực - bào mòn, trượt đất hạ thấp độ cao.
Tại đây còn có dạng địa hình thung lũng xâm thực - bồi tụ nhỏ hẹp. Đường nối các đỉnh núi Bản Mang (tây nam Yên Thắng) tới đỉnh Pù Rinh và bản thân dãy Pù Rinh chính là đường phân thuỷ của lưu vực sông Âm (sông Um) và sông Khao. Mật độ chia cắt sâu là 600 - 700 m và mật độ chia cắt dày là 1,1 km/km2. Hầu hết các thung lũng ở đây đều có dạng chữ V, trắc diện chưa cân bằng.
Tính thành bậc của địa hình đã để lại cho mạng lưới sông suối 11 có nhiều thác ghềnh mà điển hình là thác Ma Hao (nghĩa là thác Chó Ngáp) ở xã Trí Nang [21; tr 40-44]. Các quá trình địa mạo chủ yếu là bào mòn, xâm thực, phong hóa bóc vảy củ hành, trượt đất, lở đá, lở đất, rửa trôi. Với đặc điểm địa hình như vậy, khu vực này chủ yếu dành cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên, du lịch, nghỉ dưỡng và lâm nghiệp phòng hộ. Tại vùng cao có khí hậu mát mẻ, nên nghiên cứu trồng cây dược liệu, rau, quả, củ có nguồn gốc xứ lạnh.
- Khu vực núi thấp phía Tây bắc Khu vực này phân bố ở phía Tây bắc của huyện, trên lãnh thổ của các xã Lâm Phú, Yên Khương, Yên Thắng. Phía đông bắc là tuyến đường 217, phía tây nam là biên giới Việt - Lào còn phía nam là khu vực núi thấp Pù Rinh. Đường chia nước giữa lưu vực sông Âm (sông Um) và lưu vực sông Lò (Nậm Niệm) nằm ở vị trí trung tâm của vùng và chạy theo hướng tây nam - đông bắc. Khu vực này ít có những đỉnh núi cao trên 1000m, như khu vực núi thấp Pù Rinh, nhưng độ cao trung bình của nó cũng tới 700 - 800 m.
Địa hình ở đây thuộc kiểu địa hình núi thấp uốn nếp khối tảng được hình thành tại khu vực tân kiến tạo nâng lên trung bình, với tập hợp các dạng địa hình thấp xâm thực - bào mòn, bị chia cắt mạnh bởi các thung lũng hẹp xâm thực - tích tụ. Đôi nơi còn gặp các gấu lũ tích, nón phóng vật liệu, gấu trượt đất. Mư- ơng xói và khe rãnh phát triển ở những chỗ rừng bị tàn phá mạnh. Khu vực này chủ yếu dành cho hoạt động lâm nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp nên tiến hành ở các thung lũng, những bề mặt có độ dốc thấp (dưới 150).