CHƯƠNG 1:VÙNG ĐẤT AN GIANG TỪ THẾ KỈ 1 ĐẾN NĂM 1757 1. Sơ lược quá trình thành tạo và phát triển địa chất Lịch sử trái đất và sinh vật sống trên trái đất chia làm 5 đại: Đại Thái cổ (3.500 triệu năm trước đây - kéo dài 900 triệu năm), đại Nguyên Sinh (2.600 triệu năm trước đây - kéo dài 2.030 triệu năm), đại Cổ Sinh (570 triệu năm trước đây - kéo dài 340 triệu năm), đại Trung Sinh (230 triệu năm trước đây - kéo dài 150 triệu năm), đại Tân Sinh (70 triệu năm trước đây). Đại Thái cổ và đại Nguyên Sinh kéo dài 2.930 triệu năm, khi đó lớp vỏ trái đất chưa ổn định, hầu như không có di tích, do sinh vật trong giai đoạn này là loài nhuyễn thể khi chết bị phân hủy. Đại Cổ sinh chia làm 6 kỉ: Camri, Octuary, Xilua, Devon, Than đá (Carbon), Permơ.
Địa chất có hiện tượng biển tiến hay còn gọi là biển lên bờ. Sinh vật chiếm ưu thế là dương xỉ, rêu. Động vật không xương chiếm ưu thế, có hiện tượng chinh phục đất liền, xuất hiện động vật lưỡng cư như ếch nhái. Đại Trung sinh chia làm 2 kỉ: Kỉ Tam Điệp (đất đá 3 lớp), kỉ Phấn Trắng (vỏ con trùng lỗ khi chết vôi lắng đọng bao phủ bề mặt trái đất).
Sinh vật chiếm ưu thế là các loại cây hạt trần như trám, thông, các loại động vật như bò sát khổng lồ. Trong Đại Tân Sinh có ba kỉ: Palêôgen, Nêôgen (còn gọi chung là kỉ Đệ Tam), Antrôpôgen (còn gọi là kỉ Đệ Tứ hay kỉ Nhân Sinh). Kỉ Palêôgen, Nêôgen là giai đoạn đại phồn thịnh của thực vật hạt kín, động vật có sâu bọ, chim thú, động vật. Cuối kỉ Đệ Tam vượn cổ xuất hiện, đầu kỉ Đệ Tứ loài người xuất hiện trên trái đất.
Trong mỗi kỉ có nhiều thế, kỉ Đệ Tam có 5 thế: Thế Palêôxen (Cổ Tân) trái đất đóng băng ở phía Bắc, phía Nam ấm áp, thế Êôxen (Thủy Tân) trái đất nóng lên, thực vật hạt kín phát triển khắp nơi cùng với các loại thú, lớn nhất là loài khủng long, thế Ôligôxen (Tiệm 15 Tân) dạng vượn người cổ phát triển, thế Miôxen (Trung Tân - thế thứ 4 cách đây khoảng 5 triệu năm) vượn người phát triển, thế Pliôxen (Thượng Tân - thế thứ 5 cách đây khoảng 1,8 triệu năm) trái đất trở lạnh, người vượn xuất hiện. Trong kỉ Đệ Tứ có 2 thế: Thế Plêixtôxen (Cánh Tân - cách đây khoảng 0,01 triệu năm) thời kì băng hà, loài người Homosapiens xuất hiện, thế Hôlôxen (Toàn Tân - cách đây khoảng từ 11.000 năm) thời kì sau băng hà, băng tuyết tan chảy. Nằm trong lịch sử địa chất như đã trình bày, sự thành tạo và phát triển địa chất để lại dữ liệu trong các lớp trầm tích cho thấy rằng: Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng vào đầu thế Pliôxen (Thượng Tân) cách đây khoảng 1,8 triệu năm, lúc trái đất trở lạnh, người vượn xuất hiện thì ở vùng đất Đồng bằng sông cửu Long hiện nay, hàng loạt các hoạt động tân kiến tạo đã làm vỏ trái đất ở đây bị nứt nẻ. Kết quả của các hoạt động này là sự hình thành hai khối nâng lớn: khối nâng Nam Trung Bộ và khối nâng Campuchia.
Giữa hai khối nâng này là khối sụt lún. Vùng đồng bằng Nam Bộ hiện nay nằm trong vùng trũng rộng lớn đó. Vận động tân kiến tạo này còn tạo ra một hệ thống đứt gãy tạo lòng cho hệ thống sông Cửu Long hình thành và phát triển. Vùng trũng này bị sụt lún từ từ, nước biển tiến vào biến nó thành một vịnh biển mênh mông gần suốt thế Pliôxen.
Dấu tích của thời kì biển tiến này còn để lại là vết sóng biển, các thềm biển cổ ở những vùng quanh núi Câm, núi Dài, núi Phú Cường và nhóm đất trầm tích mà ngày nay thường gặp trên bề mặt đất ruộng ở vùng Vĩnh Gia, Lạc Quới (An Giang). Tại Long Xuyên lớp trầm tích này được tìm thấy ở độ sâu 30 m đến 40 m. Cuối thế Pliôxen đầu kỉ Đệ Tứ thế Plêixtôxen cách đây khoảng 1 triệu năm, đồng bằng Nam Bộ hiện nay được giải phóng khỏi lớp nước sâu. Thời kì biển thoái kéo dài suốt thế Plêixtôxen (Cánh Tân) tức suốt thời kì băng hà khi người hiện đại (HomoSapiens) xuất hiện.
Cách nay khoảng 400.000 năm mực nước biển ở độ cao trên 100 m so với hiện nay, đến thời kì cách nay khoảng 100.000 năm nước rút xuống thấp khoảng 50 m so với mực 16 nước biển hiện nay, cách nay khoảng 11.000 năm mực nước biển rút xuống đến mức thấp nhất, dưới mức nước biển hiện nay khoảng 100-120 mét. Nước biển hạ thấp để lộ một vùng đất rộng lớn, một dải lục địa, đó là lục địa Nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, các quần đảo Inđônêxia, Philippin nối liền nhau. Đường bờ biển ở tận Nam Philippin, Inđônêxia. Và do vậy những dấu vết văn hóa của người tối cổ trên con đường từ lục địa ra hải đảo được phát hiện ở nhiều nơi.
Trong giai đoạn này An Giang nói riêng và cả một vùng lãnh thổ rộng lớn từ biên giới Việt Nam - Campuchia đến tận bậc thềm biển Đông nói riêng chịu ảnh hưởng của quá trình xâm thực bào mòn. Điều này được khẳng định dựa vào lớp trầm tích rừng sú vẹt và cả đầm lầy nước ngọt bị chôn vùi bên dưới lớp trầm tích biển hiện tại. Hệ thống đứt gãy đã tạo lòng cho hệ thống sông Cửu Long hình thành và phát triển trong giai đoạn trước trong giai đoạn này đã hình thành nên các thung lũng sông cổ. Giai đoạn này được đánh dấu bằng một bề mặt phong hóa, xâm thực mà ngày nay thường gặp ở An Giang tại độ sâu từ 30 m đến 50 m.
Ở kỉ đệ Tứ, thế Hôlôxen (Toàn Tân) thời kì sau băng hà cách đây khoảng từ 11. Băng tan chảy, mực nước biển dâng lên, biển tiến dần vào đồng bằng và tràn vào những nơi có địa hình thấp hình thành một chế độ biển nông ven bờ. Vào giữa Hôlôxen, biển tiến cực đại trên toàn đồng bằng để lại trên vách đá vôi vùng Hà Tiên một vết khuyết ngang ở độ cao 4-5m - đó là vệt tích mài mòn của sóng biển khoét sâu vào đá tạo thành các hang gọi là hang chân sóng. Cả vùng An Giang đều bị ngập trong nước biển ngoại trừ một số vùng đồi núi ở Tri Tôn, Tịnh Biên.
Cảnh quan lúc bấy giờ của cả An Giang là các vùng biển nông xen với vũng vịnh và đầm lầy mặn mà dấu vết còn để lại là các mỏ sò ở Vọng Thê được xem là sinh sống trong giai đoạn biển tiến Hôlôxen có niên đại được xác định là cách nay từ 4. Vùng Bảy núi, núi Ba Thê, núi Sập, núi Sam (là hòn Sam trước đây nằm giữa biển) có nơi còn vết tích bị sóng biển vỗ mòn cao khoảng 4 đến 5 mét. “Sau khi đạt mức cực đại, mực nước biển đứng lại trong một thời gian, sau đó hạ xuống dần để lại trong vùng An Giang một lớp trầm tích bùn nhão màu xám xanh mà hiện 17 được tìm thấy ở vùng núi Chốc, Ba Thê, xung quanh núi Cô Tô, kênh Trà Sư. Tầng trầm tích biển Hôlôxen này có nơi nằm cách mặt đất hiện tại 10 m, nhưng cũng có nơi chỉ cách vài mét, thậm chí có nơi chỉ vài tấc như ở vùng Vọng Thê, núi Chóc, Tân Tuyến.
Cũng trong giai đoạn này, do ảnh hưởng của quá trình lui dần của biển và đặt biệt là hoạt động mạnh mẽ của hệ thống đứt gãy sông Tiền, sông Hậu nên nhiều dòng sông đổi dòng chảy sang hướng Đông để lại nhiều dòng sông chết mà ngày nay được gọi là sông cổ. Dấu tích của sông cổ được thể hiện rất rõ ràng bằng lớp trầm tích giàu hữu cơ xen với các vỉa than bùn khá rộng lớn ở phía Tây An Giang” [14, 150]. Cách đây khoảng 4.000 năm, biển tiếp tục lùi. Biển càng lùi, hoạt động bồi lấp của sông Tiền và sông Hậu càng mạnh.
Đồng bằng sông cửu Long hình thành do được bồi lấp vì cuộc hành trình dài bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng đến Việt Nam - chặng cây số thứ bốn ngàn, sông MêKông kéo theo một khối lượng rất lớn chất rắn - cát, đất sét tích, những vật liệu này tích tụ lại trong lòng các nhánh sông, hoặc trong biển. Tại đó, chúng tạo thành những bãi bùn lầy ven biển, bị nhấn chìm dưới nước thủy triều định kì. Những khu vực đầm lầy này dần dần bị xâm chiếm bởi một loài thực vật thân cứng, mọc dày đặc và rất thích hợp với thủy triều và nước mặn - rừng sú vẹt. Chính rừng sú vẹt này sẽ cố định và củng cố bùn để trở thành vùng đất ổn định.
Vùng châu thổ cứ thế tiến dần ra biển. Bên cạnh đó với khối lượng phù sa lên tới 1.000 triệu tấn/ năm, gấp 7,8 lần tổng khối lượng phù sa sông Hồng. Một phần phù sa theo lũ tràn bờ đi vào đồng nội, phần chủ yếu đưa ra cửa sông, bồi tụ vùng ven biển trên lớp trầm tích hỗn hợp giữa sông và biển nhất là lưu vực từ sông Hậu đến Tri Tôn và Tịnh Biên. Qua hàng ngàn năm tranh chấp với sóng biển: Sông đưa phù sa ra biển, biển tác động lại bằng thủy triều và dòng biển ven bờ, những vùng đầm lầy được bồi đắp, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long mênh mông phù sa màu mỡ được hình thành.
Khi chưa có bàn tay con người khai thác, vùng đất An Giang có nhiều đầm lầy và kênh rạch chia cắt dọc ngang. Do nước lũ hàng năm theo sông tràn ngập đồng bằng, bùn cát hạt thô lắng đọng lại ven sông, phù sa mịn theo dòng nước đi bồi lắng nơi xa hơn. Gần sông 18 bồi nhiều thành vùng đất cao, xa sông bồi ít hình thành các ô trũng, ao , hồ, đầm lầy. Vùng nước chảy xiết ít bồi tụ bằng vùng nước chảy chậm.
Bộ mặt đồng bằng An Giang trở nên lồi lõm với các gò đất cao hẹp kéo dài, các cù lao mới hình thành do bồi lắng, các vùng trũng thấp rộng lớn vừa nhiễm phèn vừa nhiễm mặn mà vết tích lớn nhất là tứ giác Long Xuyên, Châu Đốc, Kiên Giang, Đồng Tháp Mười. Hình ảnh nay còn lưu dấu dưới ngòi bút của Trịnh Hoài Đức trong tác phẩm Gia Định Thành thông chí “ao chằm dăng ngang” “sông suối dọc ngang la liệt” [8,78]. Nhìn vào lược đồ biển tiến, biển thoái, các lòng sông cổ, các vùng đất cổ và đất bồi tích của GS.TS Trần Kim Thạch [phụ lục trang 172] ta thấy rõ quá trình hình thành châu thổ của sông Cửu Long vào thời đại trước công nguyên: biển tiến, biển thoái vẫn uy hiếp toàn bộ bề mặt đồng bằng.