đặt vấn đề là quan hệ. Có đồng chí nói nước ta mất một nửa nước. Đáng lý phải thấy “nước ta mới thắng lợi một nửa nước” khác nhau nhiều” [106, tr. Miền Bắc ở thời điểm tháng 8 năm 1956 đã có 13.300 người, trong đó 7.
Dân thành thị là 5,88%, dân nông thôn là 94,12%. Diện tích miền Bắc lúc đó là 158.750 km2, miền Nam là 170. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên CNXH, trở thành một 18 thành viên trong đại gia đình các nước XHCN [147]. Cách mạng Việt Nam phát huy quan hệ tốt đẹp với các nước XHCN và phong trào giải phóng dân tộc.
Vấn đề có tính chất sống còn và cấp thiết lúc này đặt ra cho nhân dân Việt Nam là tiếp tục đấu tranh để thực hiện tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, đồng thời, phải bảo vệ và xây dựng miền Bắc, góp phần giữ gìn hoà bình thế giới. Nhưng đế quốc Mỹ càng dính líu sâu và bám chặt lấy miền Nam Việt Nam là vì giới cầm quyền Mỹ quyết tâm chiếm bằng được miền Nam Việt Nam làm thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự. Muốn cho cuộc xâm lược được thuận lợi, đế quốc Mỹ đã cường điệu và “khoác” cho Việt Nam một “mục tiêu chiến lược” rộng lớn hơn với hình ảnh quãng đê xung yếu ngăn “làn sóng đỏ”. Để vào đứng chân được ở Việt Nam làm “nhiệm vụ ngăn chặn” đó, Mỹ cần có một chiêu bài chính trị.
Chiêu bài ấy, theo lời đại tướng Mỹ Westmoreland, Mỹ vào miền Nam Việt Nam là: “Để bảo vệ thế giới tự do, chống lại miền Bắc xâm lược miền Nam Việt Nam”[112, tr. Như thế là Mỹ đã quyết bám lấy miền Nam Việt Nam và nhân dân Việt Nam cũng quyết giải phóng miền Nam. Mỹ phải dốc toàn lực và dùng đủ mọi loại vũ khí hy vọng giành thắng lợi. Việt Nam cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành độc lập, tự do.
Cuộc đấu tranh quyết liệt đó đã làm cho các mâu thuẫn của thời đại trở nên gay gắt nhất ở Việt Nam. Do đó, cuộc đấu tranh giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử. Ngày 5-1-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “.Như vậy là ở Đông Nam châu Á, chúng tôi- Việt Nam- đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hoà bình toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh…”[100, tr. Nhận định của Người ở vào thời điểm đó là một nhận định đúng đắn, khách quan.
Bởi vì, cuộc chiến tranh mà nhân dân Việt Nam, dù không muốn, đã bị xô đẩy tới chỗ buộc phải dốc hết mọi nguồn lực vật chất và tinh thần, hy sinh hàng triệu mạng sống để vượt qua, để bảo vệ được quyền sống trong độc lập, tự do, bảo vệ sự thống nhất và quyền tự quyết của dân tộc mình. Do vậy, cuộc đối đầu giữa hai phe TBCN và XHCN diễn ra ở Việt Nam không chỉ biểu hiện ở mức độ quyết liệt nhất, dưới hình thức tàn khốc nhất là chiến tranh, mà còn là sự đối đầu phức tạp nhất, không chỉ về ý thức hệ hay sự lựa chọn chế độ chính trị - xã hội, mà còn là sự đối đầu giữa ý chí độc lập, tự chủ, tự quyết, tự do của dân tộc Việt Nam với âm mưu nô dịch, thống trị và chi phối của các thế lực ngoại bang. Như thế là Việt Nam bị tạm thời chia cắt và nằm trong số những nước bị chia 19 cắt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai: Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Đức. Hai chế độ xã hội đối lập ở hai vùng của mỗi nước thể hiện mâu thuẫn cơ bản nhất của thời đại: mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB.
Các nước bị chia cắt là hình ảnh thu nhỏ của cuộc đấu tranh trên thế giới sau Chiến tranh thế giới II. Tuy nhiên, ở Triều Tiên, ở Đức, ở Trung Quốc không diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử quyết liệt giữa hai thế lực đối lập của thời đại như ở Việt Nam, bởi sự tác động chống chéo của các quan hệ quốc tế đối với mỗi nước là khác nhau. Những yếu tố quốc tế tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế Tình hình thế giới kể từ khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, nhất là từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, đã có những thay đổi lớn trên bản đồ chính trị, kinh tế, quân sự ở từng khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu. Về chính trị - quân sự, khi cuộc chiến tranh Việt Nam nổ ra, thì cũng là thời điểm đỉnh cao của chiến tranh Lạnh giữa hai hệ thống xã hội TBCN và XHCN, biểu hiện thông qua sự gia tăng nhanh chóng về chi phí quân sự và thành lập liên tiếp các khối, liên minh quân sự trên nhiều khu vực thế giới.
Ngày 4-4-1949, Mỹ đứng ra thành lập khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), đến ngày 8-9-1954 lại lôi kéo đồng minh thành lập tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO). Bước sang năm 1955, Mỹ-Anh thành lập khối Bátđa ở Trung Đông (CENTO), cũng trong năm này, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu thành lập khối quân sự Vácsava. Miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng đi lên CNXH, trở thành một thành viên trong đại gia đình các nước XHCN. Lúc này “đã hình thành một hệ thống XHCN thế giới, kéo liền từ Trung Âu đến Đông Nam Á và một tiền đồn XHCN đầu tiên ở Châu Mỹ Latinh” [74, tr.
596], “ngang dọc gần ba mươi lăm triệu cây số vuông gắn liền thành một khối vững mạnh, một đại gia đình đoàn kết thân yêu”[74, tr.“Phe XHCN được thành lập và ngày càng lớn mạnh sẽ là nhân tố quyết định sự phát triển của cách mạng thế giới và tương lai tươi sáng của loài người” [74, tr. Về kinh tế, cho tới cuối thập kỷ 50 đầu 60, tỷ trọng công nghiệp của các nước XHCN chiếm khoảng 30% sản lượng công nghiệp toàn thế giới [10, tr. Nếu so sánh về tốc độ phát triển trong cùng thời gian thì các nước thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) có tốc độ phát triển tăng trung bình là 10,4%, còn các nước tư bản thuộc khối OECD (Khối các nước Hiệp ước an ninh và hợp tác châu Âu) chỉ tăng 5,4% [10, tr. Đáng chú ý, trong hệ thống XHCN, Liên Xô là nước trụ cột, đã có tốc độ tăng 20 trưởng kinh tế hàng năm rất cao và ổn định.
Bên cạnh đó, các nước khác như Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc. cũng duy trì tốt tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, các mặt hàng công nghiệp, sản phẩm nông nghiệp đủ đáp ứng nhu cầu trong nước và hỗ trợ các nước yếu hơn theo khuôn khổ hợp tác kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở nền kinh tế phát triển tương đối ổn định, các nước XHCN không những đủ khả năng đương đầu với sự bao vây, phá hoại về kinh tế của chủ nghĩa đế quốc mà còn góp phần tích cực vào việc giúp đỡ các nước mới giành được độc lập. Do đó, xét về tương quan lực lượng trên chính trường thì phong trào cách mạng thế giới đang chiếm ưu thế, nhất là thành công của Liên Xô trên lĩnh vực hạt nhân vào năm 1947 đã phá vỡ thế độc quyền vũ khí nguyên tử, sau đó là sự kiện Spútnhíc, năm 1957, với việc Liên Xô chinh phục khoảng không vũ trụ đã gây mối lo ngại đặc biệt cho Mỹ, bởi nước Mỹ từ đây sẽ không thể yên ổn, nếu một cuộc chiến tranh mới nổ ra.
Như vậy, với sự trưởng thành và lớn mạnh nhanh chóng, phe XHCN không những là chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc, mà còn là yếu tố căn bản ngăn đe mưu toan áp đặt sự thống trị các dân tộc bằng chiến tranh xâm lược. Việc lập lại cân bằng và có phần chiếm ưu thế về quân sự của phe XHCN còn làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mỹ, từ chiến lược “trả đũa ào ạt”, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược “phản ứng linh hoạt” đầu năm 1960. Tất nhiên, còn một lý do khác nữa buộc Mỹ phải có sự điều chỉnh về chiến lược, đó là sự bùng nổ của phong trào giải phóng dân tộc. Cùng với sự tự khẳng định của hệ thống XHCN, sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc trên khắp các lục địa Á-Phi-Mỹ Latinh đã làm tan rã từng mảng hệ thống thuộc địa đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị và bắt đầu cuộc đấu tranh thoát dần khỏi sự phụ thuộc vào kinh tế.
Từ chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam (1954) đến đầu những năm 60, đã có hàng chục nước noi gương Việt Nam đứng lên phát động đấu tranh vũ trang và giành độc lập dân tộc. Ở Châu Phi đáng chú ý có cuộc đấu tranh của nhân dân Angiêri (1954-1962), sự kiện kênh đào Xuyê (1956), Cônggô chống Bỉ (1960), cách mạng Ănggôla (1-1961), Môzămbích chống Bồ Đào Nha (5-1962) - năm 1960 được gọi là năm châu Phi. Ở Trung Đông, thắng lợi của cuộc cách mạng Irắc (7-1958) làm tan vỡ khối quân sự CENTO do Anh - Mỹ dựng lên. Đặc biệt sôi động là ở khu vực châu Mỹ Latinh, nơi mà lâu nay Mỹ coi là “sân sau” là “ao nhà” thì hắng lợi của cách mạng Cuba (1959) lập nên nhà nước XHCN ở Tây bán cầu, ngay sát cạnh Mỹ đã động viên, thúc đẩy phong trào đấu tranh vũ trang ở các nước khác trong khu vực như Vênêduêla, Goatêmala, Nicaragoa, Côlômbia.nổ ra 21 ngày càng mạnh mẽ.
Điều đáng chú ý là, các dân tộc sau khi giành được độc lập, tuy khuynh hướng phát triển xã hội có khác nhau, nhưng đều có điểm chung là định hướng phát triển đất nước theo đường lối độc lập, tự chủ và ủng hộ phong trào hòa bình, tiến bộ xã hội. Tình hình đó đã thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc, làm các nước đế quốc phải căng mình ra đối phó ở khắp nơi, đồng thời buộc họ phải xác lập những quan hệ mới với những nước thuộc địa, phụ thuộc. Sự ra đời của các nước mới giành được độc lập trong điều kiện quốc tế lúc đó đã dẫn đến sự ra đời của “Phong trào không liên kết”. Là một phong trào đấu tranh cho tiến bộ xã hội, “Phong trào Không liên kết” đặc biệt dâng cao dưới tác động của cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Việt Nam.
Phong trào này quy tụ được đông đảo các quốc gia mới giành được độc lập, do đó cùng có tiếng nói chung với Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi hòa bình, độc lập, dân chủ.