Chương 1 NHỮNG ĐƠN VỊ TIỀN THÂN CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (1954-1960) 1. Bối cảnh lịch sử và tính cấp thiết của việc xây dựng lực lƣợng vũ trang cách mạng ở miền Nam Tình hình thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến phức tạp, tác động nhiều mặt đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc của nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội đã vƣợt ra khỏi phạm vi một nƣớc, trở thành hệ thống thế giới, làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chung của nhân dân các nƣớc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đây cũng là thời kỳ mà các dân tộc bị áp bức vùng lên vì độc lập, tự do, phá vỡ và thu hẹp hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội của nhân dân lao động ở các nƣớc tƣ bản cũng phát triển mạnh mẽ, làm cho đế quốc không thể tùy ý quyết định chiến tranh nhƣ trƣớc. Ngoài những thuận lợi, tình hình thế giới cũng đƣa đến nhiều khó khăn đối với cách mạng Việt Nam. Trƣớc hết, nhờ chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ vƣợt lên về sức mạnh vật chất, kỹ thuật, trở thành một siêu cƣờng mới. Tính đến năm 1960, tổng sản phẩm xã hội của nƣớc Mỹ đạt 510 tỷ đôla, hơn Bắc Việt Nam 325 lần, đƣờng bộ gấp 505 lần, sắt thép 225 lần, xuất khẩu 310 lần… [4, 489].
Về quân sự, Mỹ đang có đội quân gồm “2,5 triệu ngƣời, 104 liên đội máy bay, ném bom hạng trung, gần 40 liên đội máy bay hạng nặng, 400 máy bay B52, 1.400 máy bay B57, 110 tàu ngầm…” [126, 14]. Vì vậy, trong cuộc chiến Việt Nam, Mỹ luôn sử dụng 12 z các vũ khí hiện đại, tối tân để tăng cƣờng viện trợ cho quân đội và chính quyền Sài Gòn. Để trở thành bá chủ thế giới, trong cuộc “Chiến tranh lạnh”, Mỹ đã tiến hành các chiến lƣợc toàn cầu, tiến công trực tiếp vào phong trào giải phóng dân tộc hòng áp đặt chủ nghĩa thực dân mới đối với các nƣớc thuộc địa. Mỹ lựa chọn Việt Nam là nơi thực hiện chiến lƣợc này, bởi theo “học thuyết domino”: “nếu Mỹ rút khỏi cuộc xung đột ở miền Nam thì sự sụp đổ không những ở miền Nam Việt Nam mà cả toàn bộ vùng Đông Nam Á” [130, 158].
Mặt khác, sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, một số Đảng Cộng sản ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa có những quan điểm khác với Đảng về con đƣờng cách mạng Việt Nam. Họ muốn giữ nguyên trạng 2 miền Nam và Bắc, không ủng hộ Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh cách mạng. Theo quan điểm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, việc thống nhất không phải là một việc trong thời gian ngắn mà phải là một việc “chỉ có thể dùng phƣơng châm thích hợp là trƣờng kỳ mai phục, tích trữ lực lƣợng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ” vì “vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…”.
Trung Quốc tích cực giúp đỡ công cuộc xây dựng miền Bắc nhƣng chƣa ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam vì “Dùng lực lƣợng vũ trang để thống nhất nƣớc nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc” [32, 27]. Cũng nhƣ Trung Quốc, Liên Xô đã giúp Việt Nam thực hiện các kế hoạch 3 năm 1955-1957 và 1958-1960 ở miền Bắc nhƣng không ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Chủ trƣơng của Liên Xô là giữ nguyên trạng, tập trung xây dựng miền Bắc vững mạnh để đấu tranh chính trị, giải quyết vấn đề miền Nam thông qua con đƣờng thƣơng lƣợng hòa bình. Âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn 13 z Chỉ một ngày sau khi Hiệp định Geneva về Đông Dƣơng đƣợc ký kết, Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên bố với báo chí rằng: Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định trong hội nghị Geneva và không bị rằng buộc vào những quyết định ấy.
Từ đây, Mỹ thực hiện nhiều chƣơng trình, biện pháp để cản trở và phá hoại việc thi hành Hiệp định. Nhằm xây dựng chính quyền thực dân mới vững mạnh, Mỹ tìm mọi cách tiêu diệt các thế lực thân Pháp, xóa bỏ hoàn toàn ảnh hƣởng của Pháp. Ngay từ ngày 16-6-1954, Mỹ đã ép Bảo Đại đƣa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tƣớng, thành lập một nội các mới với nhiều thành phần thân Mỹ. Tháng 10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức “Trƣng cầu dân ý” phế truất Bảo Đại, đƣa mình lên làm Tổng thống.
Tháng 3-1956, dƣới sự bảo trợ của Mỹ, chính quyền Sài Gòn tổ chức tuyển cử, bầu ra Quốc hội. Tháng 10-1956, Ngô Đình Diệm ban hành Hiến pháp của nền “Đệ nhất cộng hòa”. Từ tháng 4/1955 - 6/1956, Mỹ - Diệm đã lần lƣợt thanh toán hết lực lƣợng vũ trang của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và tiêu diệt các đảng phái tay chân nhƣ Đại Việt, Quốc Dân Đảng… nhằm loại bỏ tận gốc ảnh hƣởng của Pháp, trừ hậu họa sau này. Để tạo chỗ dựa vững chắc cho chính quyền, tháng 8-1954, Ngô Đình Diệm thành lập Đảng Cần lao nhân vị do em trai (Ngô Đình Nhu) đứng đầu.
Đảng đƣợc tổ chức thống nhất từ trên xuống với đảng viên là các viên chức cao cấp nhất của chính quyền, đƣợc coi là nòng cốt của chế độ cả về phƣơng diện chính trị, tinh thần lẫn thực lực lãnh đạo. Bên cạnh đó, từ tháng 10-1954, Ngô Đình Diệm còn tổ chức Phong trào cách mạng quốc gia với các đơn vị thành viên nhƣ Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới… Về quân sự, Mỹ tăng cƣờng cố vấn, chuyên viên kỹ thuật, sau đó lập ra Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn dƣới danh nghĩa Phái đoàn MAAG. Bên cạnh đó, 14 z Mỹ còn tổ chức lại hệ thống quân đội Viêt Nam Cộng hòa gồm các sƣ đoàn chủ lực và trung đoàn độc lập địa phƣơng. Từ 10 sƣ đoàn, Mỹ chấn chỉnh còn 7 sƣ đoàn, với quân số duy trì ở mức trên dƣới 150.
Các cơ quan chỉ đạo chiến lƣợc, chiến thuật, các Bộ Tƣ lệnh binh chủng hải quân, không quân cũng từng bƣớc đƣợc kiện toàn với nhiều sĩ quan đƣợc cử đi học ở các nƣớc tƣ bản Âu - Mỹ [133, 30]. Lính chính quy đƣợc trang bị vũ khí, quần áo và cấp hiệu Mỹ. Hệ thống cố vấn Mỹ đặt từ Bộ Tổng tham mƣu đến các quân khu, sƣ đoàn, trung đoàn, trƣờng huấn luyện, căn cứ quân sự, kho tàng quan trọng và tiểu đoàn giới tuyến, chi phối mọi hoạt động của quân đội Sài Gòn [58, 258]. Về mặt hành chính, Mỹ - Diệm xây dựng một bộ máy cai trị từ Trung ƣơng đến tận thôn, xã.
Ở Trung ƣơng, ngoài Quốc hội là cơ quan lập pháp, có Tổng thống và kèm theo đó là Phủ Tổng thống với các bộ chuyên về quốc phòng, nội vụ, kinh tế, tƣ pháp, y tế… Bộ máy kìm kẹp cơ sở gồm có hội đồng hƣơng chính xã, ban đại diện ấp, ủy viên cảnh sát, tổng đoàn, xã đoàn, dân vệ, tổ chức ngũ gia liên bảo, mạng lƣới công an, do thám chìm nổi. Chính quyền Sài Gòn đƣợc xây dựng hoàn bị đến địa phƣơng, tạo điều kiện cho việc bắt tay vào “bình định” miền Nam Việt Nam, trọng tâm là thực hiện chính sách “Tố cộng, diệt cộng”. Ngô Đình Diệm đã tổ chức bộ máy chỉ đạo tố cộng rất chặt chẽ và thống nhất từ trên xuống dƣới. Cao nhất là Hội đồng chỉ đạo chống cộng bao gồm tất cả bộ trƣởng trong Chính phủ do Tổng thống trực tiếp làm Chủ tịch.
Dƣới là Ủy ban tố cộng Trung ƣơng với các ban thƣờng trực có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo phong trào tố cộng. Cấp tỉnh, huyện, xã cũng có Ủy ban tố cộng. Để chuẩn bị cho việc tố cộng, chính quyền Sài Gòn thực hiện phân loại dân, chia làm 3 loại với phƣơng châm dựa vào loại C (không liên quan đến cách mạng), 15 z đánh vào loại A (cán bộ, đảng viên và ngƣời kháng chiến cũ), làm cho loại B (gia đình có ngƣời đi tập kết hoặc có liên quan tới kháng chiến) khiếp sợ và khuất phục. Sau đó, bắt đầu thực hiện chiến dịch tố cộng [59, 299].
Mở màn chiến dịch tố cộng là hoạt động tuyên truyền trên tất cả các phƣơng tiện thông tin từ truyền thanh, báo chí… nhằm nói xấu Đảng Cộng sản, tô vẽ cho bộ mặt chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tiếp theo, kết hợp quân Sài Gòn với bộ máy kìm kẹp cơ sở gồm bọn chỉ điểm, mật thám, công an… sục sạo vào xã, ấp, nhận mặt từng ngƣời cách mạng. Bên cạnh những biện pháp đàn áp, tù đày, còn có các hoạt động mua chuộc, lừa phỉnh, đánh vào tâm lý, tỉnh cảm và kinh tế, làm cho những phần tử hay dao động ra tự thú, đầu hàng. Ngoài ra, chính quyền Sài gòn còn sử dụng các sƣ đoàn quân đội chính quy kết hợp với các đoàn tố cộng đánh phá các cơ sở cách mạng tại các căn cứ địa kháng chiến cũ nhƣ chiến dịch Thoại Ngọc Hầu từ ngày 20/6/1956 - 24/2/1957 ở đồng bằng sông Cửu Long, chiến dịch Trƣơng Tấn Bửu từ ngày 10/7/1956 - 24/2/1957 tại các tỉnh Đông Nam Bộ hay cuộc hành quân mùa Thu đánh vào miền Tây Nam Bộ lần thứ hai từ ngày 1/10/1957 - 12/1957.
Đi đôi với tố cộng, diệt cộng, Mỹ - Diệm còn ban hành ban hành các chính sách nhằm quản lý nông dân và nông thôn, trong đó “Cải cách điền địa” đƣợc coi là khâu trung tâm. Dù tuyên bố là để tái lập sự công bằng về sở hữu ruộng đất, thực hiện mục tiêu ngƣời cày có ruộng, nhƣng trên thực tế “Cải cách điền địa” chỉ đánh vào một bộ rất nhỏ đại địa chủ và thậm chí nhiều diện tích ruộng đất trƣớc đây đƣợc cách mạng chia cho nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp bị các tầng lớp thống trị chiếm đoạt lại… Từ tháng 4-1957, chính quyền Sài Gòn cho ra đời cái gọi là “Chính sách tái định cƣ và cứu tế dân di cƣ”, bằng việc xây dựng các khu dinh điền. Các dinh điền 16 z đƣợc thiết lập trên các cao nguyên hẻo lánh và xung yếu nhằm mục tiêu xây dựng tuyến phòng thủ từ xa, từng bƣớc bao vây, cô lập cách mạng. Chính Ngô Đình Nhu, em trai Ngô Đình Diệm, đã xác định: “Khu dinh điền là biện pháp xẻ đƣờng đƣa dân vào chiến khu, mật khu Việt cộng, dùng dân để đẩy cộng sản ra khỏi vùng đó và dinh điền là nơi cung cấp tin tình báo, nơi xuất phát để hành quân ngăn chặn xâm nhập” [7, 67].