phần Mở đầu và Kết luận, luận văn Nhân vật hoàng đế như là một nhân vật văn hóa (khảo sát trường hợp Lê Thánh Tông qua lịch sử và văn học) của chúng tôi đƣợc chia thành ba chƣơng với các nội dung: Chƣơng 1: Các con đƣờng hình thành Đế quyền. Chƣơng 2: Hoàng đế và những quyền lực, phẩm chất cần có của Hoàng đế. Chƣơng 3: Các hình thức bảo vệ Đế quyền. 9 z CHƢƠNG 1: NHỮNG CON ĐƢỜNG HÌNH THÀNH ĐẾ QUYỀN 1.
Bạo lực Có thể nói, bạo lực (nghĩa rộng hơn: chiến tranh) là con đƣờng đầu tiên và rất phổ biến để giành Đế quyền ở tất cả quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong các cuộc chiến tranh giành quyền lực thời nguyên thủy - những mong vơ vét của cải và nô lệ - ngƣời giành chiến thắng bao giờ cũng là thủ lĩnh mạnh nhất. Tới khi xã hội loài ngƣời phát triển ở bậc cao hơn, có ý thức về chủ quyền - lãnh thổ, vẫn là những cuộc động binh liên miên để thôn tính, sáp nhập các nƣớc bé, khẳng định quyền uy nƣớc lớn. Chớ nên quên cả đất Trung Hoa thời cổ đại từng là một chiến trƣờng có “không gian mênh mông”, “thời gian đằng đẵng” - nơi các nƣớc Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, Tần… đua nhau tranh hùng xƣng bá.
Phải đến năm 221 trƣớc Công nguyên, Tần Doanh Chính (259 TCN - 210 TCN) mới tiêu diệt 6 nƣớc chƣ hầu thời Chiến Quốc - vốn phân tán - thống nhất sơn hà, xƣng Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, lập nên một đế chế hùng mạnh. Tần Doanh Chính lên nối ngôi cha (Trang Tƣơng vƣơng) năm 246 trƣớc Công nguyên, lúc vừa tròn 13 tuổi. Thời Doanh Chính trị vì, nƣớc Tần đã lớn mạnh, không ngừng mở mang bờ cõi, lấn đất của 6 nƣớc chƣ hầu còn lại. Trong các năm từ 230 - 228 trƣớc Công nguyên, nhà Tần lần lƣợt thôn tính nƣớc Hàn và nƣớc Triệu.
Thêm 3 năm nữa (225 trƣớc Công nguyên), nƣớc Ngụy ra hàng Tần. Năm 223 trƣớc Công nguyên, Sở vƣơng bị giết, nƣớc Sở cũng thuộc về Tần sau 700 ngày liên tục can qua. Chỉ hai năm sau nữa, bản đồ “tam quốc” lần thứ nhất chất dứt tồn tại khi Tần vƣơng sai con Vƣơng Tiễn là Vƣơng Bí cầm quân lần lƣợt đánh tan nƣớc Yên (222 trƣớc Công nguyên) và nƣớc Tề láng giềng (221 trƣớc Công nguyên), vốn là “đồng minh” trƣớc đó. 10 z Để chứng tỏ Đế quyền, việc đầu tiên Tần Thủy Hoàng nghĩ đến là bắt hoàng gia vƣơng tộc 6 nƣớc cũ phải dời đến kinh thành Hàm Dƣơng, phát mãi toàn bộ đất đai của họ; đồng thời, mạnh tay thi hành một đƣờng lối cai trị hà khắc theo phái Pháp gia: trọng binh - nông, ức công - thƣơng, ghét đa nguyên về tƣ tƣởng, sẵn sàng “đốt sách chôn nho”… Ở Việt Nam, con đƣờng chiếm lĩnh Đế quyền của nhiều vị hoàng đế cũng không gì khác hơn ngoài hai chữ “bạo lực” - dù tính chất và mức độ nhiều phần khác với chuyện xảy ra bên kia biên giới.
Với Đinh Tiên Hoàng - vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử dân tộc - con đƣờng Đế quyền ông đi tới là một hành trình “dẹp loạn và dựng nƣớc” nhiều gian nan. Sau đám tang của ngƣời anh hùng dân tộc Ngô Quyền (năm 944), ngƣời từng lập nên một Bạch Đằng giang lần thứ nhất, đƣa đất nƣớc ta thoát khỏi đêm trƣờng Bắc thuộc (để hàng mấy thế kỷ sau, sứ thần thám hoa Giang Văn Minh còn không thôi tự hào Đằng giang tự cổ huyết do hồng), non sông Đại Việt đã ngay lập tức trải qua nhiều sự cố: Bình vƣơng Dƣơng Tam Kha tiếm quyền (945 - 950); hai con của Ngô vƣơng cùng nhau trông coi chính sự (từ năm 951). Khi Xƣơng Ngập qua đời (năm 954), rồi Xƣơng Văn chết (năm 965) lúc đánh dẹp hai thôn Đƣờng, Nguyễn ở Thái Bình (bị phục binh), chính quyền trung ƣơng đã dần sụp đổ cùng sự suy yếu của Ngô Xƣơng Xí (con Ngô Xƣơng Ngập). Năm 966, nƣớc nhà xuất hiện 12 sứ quân: 1.
Ngô Xƣơng Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh Hóa). Đỗ Cảnh Thạc tự xƣng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai - Hà Nội). Trần Lãm tự xƣng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố (Thái Bình). Kiều Công Hãn tự xƣng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu - Bạch Hạc (Việt Trì - Lâm Thao, Phú Thọ).
Nguyễn Khoan tự xƣng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái (Vĩnh Tƣờng - Vĩnh Phúc). Ngô Nhật Khánh tự xƣng là Ngô Lãm Công, giữ Đƣờng Lâm (Sơn Tây, Hà Nội). Lý Khuê tự xƣng là Lý Lãng, giữ Siêu Loại (Thuận Thành - Bắc Ninh). Nguyễn Thủ Tiệp tự xƣng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du (Bắc Ninh).
Lã Đƣờng tự xƣng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang (Văn Giang - Hƣng Yên). Nguyễn Siêu tự xƣng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì - Hà Nội). Kiều Thuận tự xƣng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê (Phú Thọ). Phạm Bạch Hổ tự xƣng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu (Hƣng Yên).
Về phần Đinh Bộ Lĩnh, ban đầu, ông đã có sự tập hợp dân chúng quanh vùng Hoa Lƣ. Sau đó, ông cùng con trai cả Đinh Liễn (đã lớn) sang theo sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Mối liên minh này càng bền chặt khi Đinh Bộ Lĩnh cƣới thêm Trần Nƣơng (con gái Trần Minh Công) làm vợ. Sau khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh thay quyền nhạc phụ, đƣa quân về Hoa Lƣ, chiêu mộ binh lính, chống lại triều đình trung ƣơng đã suy yếu và các sứ quân khác.
Trƣớc đây, chúng ta chỉ biết chung chung, đại để rằng: Đinh Bộ Lĩnh lần lƣợt đánh thắng 11 sứ quân khác, lập nên nƣớc Đại Cồ Việt. nhƣng theo sử gia Nguyễn Danh Phiệt, ngƣời anh hùng cờ lau đã liên kết - hàng phục Ngô Nhật Khánh, Ngô Xƣơng Xí, Phạm Bạch Hổ; dẹp loạn Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Nguyễn Thủ Tiệp, Kiều 12 z Thuận, Lý Khuê; hai sứ quân còn lại (Lã Đƣờng, Nguyễn Khoan) thì tự tan [30, 74]. Dù có tới 5/11 sứ quân chọn cách “ứng xử” liên kết - hàng phục hay tự tan thì hậu thế cũng không thể “bác bỏ” con đƣờng đi tới Đế quyền của Đinh Tiên Hoàng: bạo lực. Đây là vài lần “tranh hùng” giữa ông với sứ quân Nguyễn Siêu mà Nguyễn Danh Phiệt đã dày công tìm kiếm, tái hiện: “Tháng 11 năm Bính Dần (966), Đinh Bộ Lĩnh khởi binh ở dƣới núi Đọi (Đọi Sơn).
Bộ lạc các nơi sợ phục, trong triều ngoài nội theo đến ba ngàn tƣớng sĩ (…) Nguyễn Siêu sai các tƣớng sĩ luyện tập, binh lính đào hào đắp lũy để phòng bị (…) Ngày 6-6, tƣớng nhà Đinh là các bọn Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Cao Sơn và Đinh Thiết đem binh mã đi đƣờng phía Nam kéo đến vây chặt vài vòng. Trong cuộc đọ sức lần đầu này, Đinh Bộ Lĩnh bị mất 4 tƣớng. Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh lại sai Nguyễn Bặc làm tiên phong, Lê Hoàn làm tiếp chiến đem quân đến đánh. Đinh Bộ lĩnh làm thống lĩnh đem voi chiến và quân sĩ đi đƣờng tắt xã Cẩm Cơ (?) đến đánh phá.
Nguyễn Siêu chọn tƣớng tuyển quân, sửa soạn lƣơng ăn, phục chỗ hiểm. Ngày 26-6, có ngƣời là Đỗ Khả tiến từ phƣơng Bắc tới hiến kế nên lui quân về phía Tây Bắc, xin viện quân ở sƣ huynh (tức Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp) đến hiệp lực chống đỡ. Ngày 10 tháng 7, Nguyễn Siêu hợp nhau chia quân làm hai bộ phận. Một bộ phận ở lại giữ lũy, một bộ phận do chính Nguyễn Siêu đem đi xin cứu viện.
Ngày 15 tháng 7, quân quyền của Nguyễn Siêu qua sông sang phía Bắc, đến giữa sông gặp (sóng to) gió lớn, thuyền tƣớng, quân nhu, khí giới bị đắm sạch… Bộ Lĩnh nghe tin, nửa đêm sai 10 võ sĩ ngầm vào phóng lửa đốt hết doanh trại. Quân Nguyễn Siêu tan tác…” [30, 71 - 72]. 13 z Ngoài con đƣờng hình thành Đế quyền từ bạo lực dẹp nội thù nhƣ trên đây, còn một lối đi khác nữa (vẫn trên cơ sở bạo lực) cho các trang hảo hán thời quân chủ muốn lên ngôi báu trị vì trăm họ là chống xâm lăng. Sở dĩ Lê Lợi (1385 - 1433) từ địa vị một hào trƣởng đất Lam Sơn lên ngôi Bình Định vƣơng, rồi Hoàng đế ở Đông Kinh ngày 15 tháng 4 năm 1428… đƣợc tôn vinh là Tổ Trung hưng thứ hai của dân tộc ta, bởi ông có 10 năm (1418 - 1427) “nếm mật nằm gai”, kiên trì gây dựng và lãnh đạo phong trào yêu nƣớc, dùng bạo lực đánh đuổi kẻ thù từ bên kia biên giới tràn sang áp đặt ách đô hộ sau thất bại quân sự của họ Hồ năm 1407.
“Theo đuổi” con đƣờng bạo lực, không phải không có lúc Lê Lợi gặp những nguy nan: Khi Linh sơn lương hết mấy tuần/ Khi Khôi huyện quân không một đội… nhƣng chính “con đƣờng” ấy đã giúp ông giải phóng dân tộc, đồng thời thiết lập nên ngôi vị Đế quyền dài tới 360 năm cho một dòng họ. Và không thể không nhắc tới ở đây trƣờng hợp dùng bạo lực dẹp cả nội thù và chống xâm lăng để thiết lập nên Đế quyền nhƣ anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ (1753 - 1792) vốn ngƣời họ Hồ huyện Hƣng Nguyên (tỉnh Nghệ An), tổ tiên theo chúa Nguyễn vào Đàng Trong - đất Tây Sơn (Bình Định) lập nghiệp. Đƣợc tôi luyện trong một thời kỳ bão táp, lại có chí hƣớng và tài năng lỗi lạc, tên tuổi ông gắn liền với một phong trào nông dân rộng lớn diễn ra sôi nổi trong mấy mƣơi năm cuối cùng của thế kỷ XVIII, trên đất nƣớc ta.
Bằng các hoạt động quân sự (bạo lực), Nguyễn Huệ lần lƣợt tiêu diệt chính quyền chúa Nguyễn (1777), đánh bại quân xâm lƣợc Xiêm (1785), xóa sổ quân quan nhà Trịnh (1786) và đập tan 29 vạn quân Thanh đang núp dƣới chiêu bài “phù Lê” mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Trƣớc đó, cuối năm 1788, trên đƣờng tiến quân ra Bắc Hà tiêu diệt kẻ thù, ông đã lên ngôi Hoàng đế để lấy danh nghĩa chính thống. Theo cố giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng, Quang Trung 14 z - Nguyễn Huệ là ngƣời ba lần anh hùng: anh hùng áo vải; anh hùng xóa hận sông Gianh - san bằng ranh giới Đàng Trong, Đàng Ngoài in hằn hai thế kỷ và anh hùng trong thắng tích Thăng Long [42, 891]. Vƣợt lên ý nghĩa hiện thực vốn có, “bạo lực” trong tay Quang Trung đã trở thành những bài học lớn về nghệ thuật điều binh khiển tƣớng, chớp thời cơ, giáng cho đối phƣơng đòn quyết định.