Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO KẾT HỢP ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VỚI ĐẤU TRANH QUÂN SỰ CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở MIỀN NAM (1961-1965) 1. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và chủ trương của Đảng về kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự ở miền Nam 1. Tình hình thế giới và âm mưu của đế quốc Mỹ ở Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 60 * Tình hình thế giới: Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến phức tạp, tác động mạnh mẽ tới cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Ba trào lưu cách mạng thế giới ( sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản) luôn phát triển ở thế tiến công toàn diện, đẩy chủ nghĩa đế quốc vào thế bị động và thất bại liên tiếp.
Thắng lợi của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã mở ra một thời kỳ mới, mà đặc điểm nổi bật của nó là: Chủ nghĩa xã hội đã vượt khỏi phạm vi một nước, trở thành một hệ thống thế giới lớn mạnh nhanh chóng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chung của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Với bản chất tốt đẹp của mình, chủ nghĩa xã hội trở thành đích đến, trụ cột của nhiều quốc gia. Đồng thời, sự phát triển vượt bậc của các nước xã hội chủ nghĩa trên nhiều lĩnh vực đã làm thay đổi tương quan lực lượng cách mạng thế giới, góp phần to lớn vào việc bảo vệ nền hòa bình, dân chủ. "Đến đầu năm 1960 nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa đã chiếm vị trí đáng kể trong nền kinh tế thế giới (38%)" [60, tr.
Khoa học kỹ thuật phát triển và giành được những thành tựu quan trọng, đặc biệt là về quân sự. Không chỉ dừng ở việc chế tạo thành công bom 12 z nguyên tử (1949), đến năm 1961, Liên Xô đã phóng vệ tinh nhân tạo và phóng tàu vũ trụ có người lái vào quỹ đạo trái đất. Do đó, không những nâng cao uy tín của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế, mà quan trọng hơn là đã tạo thêm thế mới cho sự nghiệp bảo vệ hòa bình thế giới. Đồng thời, cũng buộc chủ nghĩa đế quốc, mà trước hết là Mỹ phải thay đổi chiến lược toàn cầu của mình.
Đây cũng là thời kỳ mà nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh mạnh mẽ cho những mục tiêu cao cả. Các nước thuộc địa ở Á, Phi, Mỹ La tinh lần lượt đứng lên giành độc lập, phá vỡ và thu hẹp hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Năm 1960, đã có 17 nước châu Phi (Camarun, Xenegan, Conggo, Xomali, .) giành được thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. "Cho đến cuối năm 1964, trên 1.5 tỷ người của ba lục địa này đã được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân.
Trên 60 nước độc lập trẻ tuổi đã bước lên vũ đài chính trị quốc tế, với tư cách là những quốc gia có chủ quyền"[60 , tr. Mặt khác, các nước thuộc địa cũng đoàn kết với nhau trong phong trào Không liên kết để chống kẻ thù chung. Với những hoạt động tích cực, nó đã tạo thành một lực lượng chính trị vô cùng rộng rãi trên trường quốc tế, vừa tăng sức cổ vũ cho cách mạng miền Nam, vừa làm suy yếu và phân tán lực lượng của chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm 1960 thực sự trở thành đồng minh, hỗ trợ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.
Cùng với hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc còn có phong trào đấu tranh đòi cải thiện dân sinh, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội của công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản cũng phát triển mạnh mẽ. Điều đó, làm cho đế quốc không thể tùy ý quyết định có hay không có chiến tranh như trước. Do đó, nó trở thành một dòng thác cách mạng đánh vào chính sách phản động của chủ nghĩa đế quốc và đẩy chủ nghĩa tư bản rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Ngoài ra, vào những năm đầu của thập kỷ 60, đế quốc Mỹ cũng phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế (1960 -1961).
Hậu quả của nó là làm "5,5 triệu người 13 z thất nghiệp, dự trữ vàng giảm xuống 15.8 triệu USD năm 1963"[60, tr. Tổng thống Mỹ G. Kennodi, cũng khẳng định: "Mỹ là nước tài nguyên giàu có nhất thế giới, nhưng lại là một trong những nước tư bản có tốc độ phát triển kinh tế thấp nhất" [60, tr. Khó khăn này đã làm đau đầu nhiều đời tổng thống, và nó cũng chi phối nhất định tới các chính sách quân sự của Mỹ.
Phong trào chống Mỹ cũng ngày càng lên mạnh ở các châu lục. Do đó, trong chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ sẽ gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân lao động. Bên cạnh những thuận lợi, tình hình thế giới cũng đưa đến những khó khăn đối với cách mạng Việt Nam. Trước hết, nhờ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ vượt lên về sức mạnh vật chất - kỹ thuật và quân sự, đã nhảy ra đóng vai trò “sen đầm” quốc tế, hòng cứu vãn chủ nghĩa đế quốc.
Tính đến năm 1960, Mỹ đã có "đội quân gồm 2.5 triệu người, 104 liên đội máy bay, ném bom hạng trung, gần 40 liên đội máy bay ném bom hạng nặng, 400 máy bay B52, 1.400 máy bay B57, 110 tàu ngầm trong đó có 32 chiếc được trang bị tên lửa chiến lược thế hệ mới" [52, tr. Vì vậy, trong cuộc chiến ở Việt Nam, đế quốc Mỹ luôn sử dụng các vũ khí hiện đại, tối tân và tăng cường viện trợ cho quân đội và chính quyền Sài Gòn. Trong khi chưa có tiềm lực để thực hiện một cuộc chiến tranh nóng nhằm tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, thì chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ đã phát động một cuộc chiến tranh lạnh. Để trở thành bá chủ thế giới, Mỹ đã tiến hành chiến lược toàn cầu, với những phương tiện khổng lồ và thủ đoạn tàn bạo, quỷ quyệt.
Từ chỗ chuẩn bị chiến tranh bằng vũ khí hạt nhân nhằm đánh thẳng vào phe xã hội chủ nghĩa là chủ yếu, Mỹ chuyển sang dùng chiến tranh hạn chế bằng vũ khí thông thường. Do đó, Mỹ tiến công trực tiếp vào phong trào giải phóng dân tộc và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới đối với các nước thuộc địa. Mỹ lựa chọn Việt Nam là nơi thử nghiệm chiến lược này, bởi đây là nơi diễn ra cuộc cách mạng giải phóng dân tộc triệt để nhất và ảnh hưởng của nó đã vượt ra ngoài phạm vi Đông Dương. Đồng thời, đây cũng là nơi mà "Nếu Mỹ rút khỏi cuộc xung đột ở miền Nam thì sự sụp đổ không những ở miền 14 z nam Việt Nam mà cả toàn bộ vùng Đông Nam Á" [60, tr.
Bởi, theo Mỹ miền Nam Việt Nam là nơi có nguy cơ phá vỡ "chiến lược vành đai" của chúng. Cũng trong giai đoạn này, khi nhân dân Việt Nam đang bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy khó khăn, thì trong nội bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc đã diễn ra những mâu thuẫn và bất đồng gay gắt về chiến lược, sách lược, phương pháp đấu tranh chống đế quốc và các thế lực phản động. Mặt khác, để củng cố vị trí của mình là nước xã hội chủ nghĩa đích thực, hai nước Xô - Trung đã có những chính sách khác nhau nhằm tranh giành ảnh hưởng đối với Việt Nam. Điều đó tạo cơ hội cho chủ nghĩa đế quốc lợi dụng, chia rẽ và làm suy yếu phong trào cách mạng thế giới.
Chính vì vậy, đòi hỏi Đảng trong giai đoạn này phải khéo léo xử lý quan hệ đối ngoại để có thể tranh thủ mọi sự giúp đỡ. Cùng với những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, thì ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đang thực hiện âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân sự tấn công miền Bắc và ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa phát triển ở khu vực Đông Nam Á. * Âm mưu của đế quốc Mỹ trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới với đặc điểm nổi bật là đất nước tạm chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau: miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thống nhất nước nhà. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ dựng lên bộ máy chính quyền độc tài phát xít Ngô Đình Diệm.
Đồng thời, thông qua hệ thống cố vấn và viện trợ của Mỹ chúng đã tiến hành hàng loạt các thủ đoạn "tố cộng", "diệt cộng", ban hành Luật 10-59,. nhằm đàn áp và tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam. Đây là thời 15 z kỳ mà cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức để chống lại kẻ thù hùng mạnh, tàn bạo, trong khi lực lượng cách mạng nhỏ yếu. Bởi theo hiệp định Giơnevơ thì cán bộ cách mạng và bộ đội nước ta phải tập kết ra miền Bắc.
Đứng trước yêu cầu bức thiết của cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị lần thứ 15 (1/1959), thông qua nghị quyết về đường lối cách mạng miền Nam, đưa đến thắng lợi của phong trào Đồng khởi. Thắng lợi của cao trào Đồng khởi mùa Xuân 1960 đã giáng một đòn nặng nề vào chế độ Mỹ - Diệm. Nó mở ra một cục diện mới cho cách mạng miền Nam: từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công liên tục. Điều đó thể hiện tư duy sáng tạo, linh hoạt của Đảng trong việc xác định hình thức và phương pháp cách mạng.
Đồng thời, cũng đặt ra vấn đề sau khởi nghĩa: làm thế nào bảo vệ được quyền làm chủ đã giành được, đấu tranh vũ trang có còn là vị trí hỗ trợ hay phải được đặt ngang hàng với đấu tranh chính trị?