Phân tích chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1953-1957

Luận án tiến sĩ phân tích quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1953-1957, nêu bật những thành tựu và thách thức.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

184
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tình hình ruộng đất ở Việt Nam giai đoạn 1953 đến 1957

2. CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA ĐẢNG Ở TỈNH PHÚ THỌ TỪ NĂM 1953 ĐẾN NĂM 1955

2.1. Tình hình ruộng đất ở tỉnh Phú Thọ trước năm 1953

2.2. Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ từ năm 1953 đến năm 1955

2.2.1. Chủ trương của Đảng phóng tay phát động quần chúng thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất

2.2.2. Quá trình thực hiện giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất ở tỉnh Phú Thọ

3. CHƯƠNG III: THỰC HIỆN SỬA SAI TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, HOÀN THÀNH KHẨU HIỆU "NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG" Ở TỈNH PHÚ THỌ (1955-1957)

3.1. Những yếu tố tác động tới công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở Phú Thọ

3.2. Chủ trương sửa sai trong cải cách ruộng đất của Đảng

3.3. Quá trình kiểm tra thí điểm cải cách ruộng đất và những sai lầm trong cải cách ruộng đất tại Phú Thọ

3.4. Công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở Phú Thọ

3.4.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

3.4.2. Quá trình sửa sai trong cải cách ruộng đất ở Phú Thọ

4. CHƯƠNG IV: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1. Nhận xét chung

4.2. Nhận xét về quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ từ năm 1953 đến 1955

4.3. Nhận xét về công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở tỉnh Phú Thọ

4.4. Một vài kinh nghiệm chủ yếu

4.4.1. Quan tâm giải quyết vấn đề ruộng đất của nông dân phải đi đôi với việc củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc

4.4.2. Dựa vào quần chúng, phát huy quyền làm chủ của quần chúng, nhưng phải coi trọng việc giác ngộ và tổ chức quần chúng

4.4.3. Điều tra nghiên cứu, đánh giá đúng thực tế khách quan để đề ra chủ trương, chính sách cho đúng, đặc biệt là chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số

4.4.4. Coi trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong quá trình thực hiện chính sách ruộng đất

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tình hình ruộng đất ở tỉnh Phú Thọ trước năm 1953

Trước năm 1953, tình hình ruộng đất ở tỉnh Phú Thọ chịu ảnh hưởng nặng nề của chế độ phong kiến và thực dân. Đất đai chủ yếu thuộc về một số ít địa chủ, trong khi phần lớn nông dân không có đất hoặc chỉ sở hữu một diện tích rất nhỏ. Chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được hình thành từ những năm đầu cách mạng, nhưng chưa được thực hiện triệt để. Nông dân sống trong cảnh nghèo đói, thiếu thốn, không có quyền sở hữu đất đai. Đảng đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề ruộng đất, coi đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu để xây dựng xã hội mới. Việc cải cách ruộng đất được xem là một bước đi cần thiết để thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng". Đảng đã chuẩn bị cho một cuộc cải cách ruộng đất quy mô lớn nhằm xóa bỏ chế độ chiếm hữu phong kiến và thực hiện quyền sở hữu đất đai cho nông dân.

II. Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ từ năm 1953 đến năm 1955

Giai đoạn 1953-1955 đánh dấu sự khởi đầu của cuộc cải cách ruộng đất tại Phú Thọ. Đảng đã phát động phong trào giảm tô, giảm tức, nhằm giảm bớt gánh nặng cho nông dân. Chính sách này được thực hiện thông qua việc tổ chức các cuộc họp quần chúng, tuyên truyền về lợi ích của cải cách ruộng đất. Nông dân được khuyến khích tham gia vào quá trình này, từ đó tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số sai lầm đã xảy ra, như việc phân loại địa chủ không chính xác, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho nhiều gia đình nông dân. Đảng đã nhận thức được những sai lầm này và bắt đầu có những điều chỉnh cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho nông dân, đồng thời củng cố niềm tin của họ vào chính sách của Đảng.

III. Thực hiện sửa sai trong cải cách ruộng đất hoàn thành khẩu hiệu người cày có ruộng ở tỉnh Phú Thọ 1955 1957

Giai đoạn 1955-1957 là thời kỳ Đảng thực hiện công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất. Sau khi nhận thấy những sai lầm trong quá trình thực hiện trước đó, Đảng đã chủ trương điều chỉnh chính sách, nhằm đảm bảo quyền lợi cho nông dân. Các cuộc kiểm tra, đánh giá được tiến hành để xác định những sai lầm và tìm ra giải pháp khắc phục. Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe ý kiến của quần chúng, từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn. Khẩu hiệu "người cày có ruộng" được thực hiện một cách triệt để hơn, giúp nhiều nông dân có được quyền sở hữu đất đai. Tuy nhiên, những sai lầm trong quá trình thực hiện vẫn để lại những hậu quả nặng nề, cần được nghiên cứu và rút ra bài học cho các giai đoạn sau.

IV. Nhận xét và kinh nghiệm

Nhìn chung, quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ từ năm 1953 đến 1957 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng cũng không tránh khỏi những sai lầm. Việc giảm tô, giảm tức đã giúp nông dân cải thiện đời sống, nhưng những sai lầm trong phân loại địa chủ đã gây ra nhiều hệ lụy. Kinh nghiệm rút ra từ giai đoạn này cho thấy, việc lắng nghe ý kiến của quần chúng và điều chỉnh chính sách kịp thời là rất quan trọng. Đảng cần phải có những biện pháp cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho nông dân, đồng thời củng cố niềm tin của họ vào chính sách của Đảng. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay, khi mà vấn đề ruộng đất vẫn là một trong những vấn đề nóng bỏng trong xã hội.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 tới chương 7) và ở cải cách ruộng đất ở Việt Nam từ 1953 - 1957 (từ chương 8 tới chương 13). Trong phần nghiên cứu về ruộng đất ở Việt Nam, tác giả đề cập tới các đợt cải cách ruộng đất ở Việt Nam từ đợt thí điểm tới cải cách ruộng đất đợt 1, 2, 3, 4, 5 cùng với 8 đợt giảm tô. Trong đó tác giả có đề cập tới Luật cải cách ruộng đất năm 1953 tại Việt Nam, hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những sai lầm của cải cách ruộng đất ở miền 10 z Bắc Việt Nam nói chung và ở ngoại thành thủ đô Hà Nội nói riêng.

Trong chương 10, tác giả thường xuyên trích dẫn các báo cáo, bài viết từ những tờ báo: Nhân dân, Thời Mới Hà Nội, trích dẫn nhiều số liệu từ cuốn sách “Cách mạng ruộng đất” của Trần Phương. Năm chương cuối của cuốn sách, Ewin Moise đã đánh giá một cách thẳng thắn về những sai lầm của cải cách ruộng đất ở Việt Nam. Ngoài Ewin Moise, còn có nhiều học giả nước ngoài khác đề cập tới cải cách ruộng đất ở Việt Nam như tác phẩm Agrarian reform and national liberation in the Vietnamese revolution: 1920-1957” (Cải cách nông nghiệp và cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam 1920 - 1957) của Christine White, xuất bản năm 1981; Vietnam Village in transition. Background and Consequence of Reform olicies in Rural Vietnam” (Làng Việt Nam trong quá trình chuyển đổi.

Nền tảng và hệ quả của các chính sách cải cách trong nông thôn Việt Nam) của Bernhard Dahm và Vincen xuất bản năm 1999; Năm 1992, Đại học Hawaii đã xuất bản cuốn “Revolution in the village: Tradition and Transformation in North Vietnam (1925- 1988) (Cách mạng ở làng xã: truyền thống và chuyển đổi ở miền Bắc Việt Nam) của tác giả Lương Văn Hy, trong nội dung viết tác giả đã giành ra 24 trang trong số 272 trang sách để đề cập tới sự phân phối và sở hữu ruộng đất ở huyện Lâm Thao, Phú Thọ từ năm 1925 đến năm 1988. Đây cũng là địa phương điển hình trong thực hiện giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất giai đoạn 1953 đến 1957 của tỉnh Phú Thọ- đây là nguồn tư liệu quý liên quan trực tiếp tới đề tài luận án. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về các chính sách ruộng đất của một số nước trên thế giới như: Chính sách ruộng đất ở một vài nước Đông Âu” (1950) của Antonin Nedved, E.Varga, Mikhai Minkov, R.Zambrovsky do Lê Văn Ngoạn dịch và Cải cách điền địa ở Tiệp Khắc” (J. Kotako) do Ban tuyên huấn khu ủy khu 8 dịch và làm tài liệu tuyên truyền là các bài đăng trên tạp chí về tình hình cải cách ruộng đất ở các nước Đông Âu nói chung và ở 11 z các nước Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungary nói riêng thời kỳ còn tồn tại trong khối SNG, Vấn đề ruộng đất ở Trung Hoa” (Văn Lâm dịch- 1950) đã khái quát tình hình ruộng đất ở Trung Hoa trước ngày giải phóng, vấn đề chia ruộng đất, công việc chuẩn bị trước khi thi hành cải cách ruộng đất, những điều chú ý trong việc cải cách ruộng đất.

Đây có thể coi là bài học kinh nghiệm, là “tấm gương” để Việt Nam tiến hành cải cách ruộng đất. Để giúp người dân và các cán bộ cải cách ruộng đất hiểu rõ hơn về: cách phân định kẻ thù, cách phân loại địa chủ, cách vận động nhân dân, cách dựa vào dân để tìm ra “địa chủ phản động” thì cuốn Kinh nghiệm về phương pháp lãnh đạo trong việc cải cách ruộng đất” của Lưu Trấn Bản dài 46 trang được coi như sách “gối đầu giường”của các cán bộ cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam: “Lấy kinh nghiệm điển hình của cán bộ để giáo dục cán bộ” [13, tr.17], “Lấy kinh nghiệm điển hình của quần chúng để giáo dục quần chúng” [13, tr.16], trong việc điều tra bần cố nông thì “phải tiếp xúc với họ một cách sâu rộng để hiểu rõ tình cảnh của họ, rồi cùng họ ăn, cùng ngủ, cùng làm (ở Trung Quốc gọi là “tam đồng”), tìm cách trò chuyện với họ, lúc đầu những chuyện thường trong nhà, so sánh đời sống trước và sau khi giải phóng rồi dùng phương pháp lấy khổ, gợi khổ cho họ tố khổ” [13,tr.18], “tố khổ xong lại cùng họ mạn đàm, tìm tòi căn nguyên, tiến thêm một bước giáo dục họ về chính trị, nêu cho họ biết muốn nổi dậy phải cùng nhau đoàn kết lại, phải kiên tâm, không sợ thất bại” [13, tr.18-19], “hết sức đi sâu, hết sức phóng tay, phản đối bao biện làm thay” [13, tr. Trong Không thể cải cách ruộng đất một cách hòa bình” Tiết Thọ Chương, Lý Quảng Điền đã nhấn mạnh: Quạ ở đâu chả đen, không một địa chủ nào tốt cả, vì không một địa chủ nào không dựa vào bóc lột mà thành địa chủ được, không lao động lại được ăn, dựa vào bóc lột mà sống là bản chất của địa chủ; sự trưởng thành của địa chủ là một tội ác đẫm máu từ trong lòng mẹ tới khi lớn khôn; dưới chế độ bóc lột phong kiến, trong xã hội giai cấp, người nào 12 z chỉ dựa vào sức lao động mà sống thì không thành địa chủ được; giai cấp địa chủ là giai cấp rất tàn ác, ngoan cố, xảo quyệt, phản động; không kiên quyết trấn áp lực lượng phản cách mạng, không phát động được quần chúng; nếu không kịp thời xử trí hoặc xử trí quá rộng rãi với phần tử phản cách mạng sẽ không làm cho họ cúi đầu nhận tội. Có phải chăng những tài liệu tuyên truyền này đã thấm sâu vào trong tư duy của các đoàn cải cách ruộng đất nên dẫn tới những nhận định không đúng về địa chủ Việt Nam của nông dân Việt Nam, và dẫn tới những sai lầm trong cải cách ruộng đất về sau này.

Nghiên cứu của các tác giả trong nước về ruộng đất ở Việt Nam giai đoạn 1953 đến 1957 Trong giai đoạn từ năm 1953 tới 1957, bên cạnh việc "phóng tay phát động quần chúng giảm tô, giảm tức", Đảng Lao động Việt Nam đã tiến hành cải cách ruộng đất nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ phản cách mạng, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập.Do đó, khi nghiên cứu về ruộng đất giai đoạn 1953 - 1957 các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu về cải cách ruộng đất - một cuộc cách mạng ruộng đất quyết liệt của Đảng để nhằm xóa bỏ triệt để tàn tích phong kiến. Nghiên cứu về cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam Một trong những nghiên cứu về ruộng đất khá đầy đủ thời kỳ 1953 tới 1957 phải kể tới cuốn Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam” (Hoàng Ước, Lê Đức Bình, Trần Phương - chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968, 388 trang). Trong chương III (từ trang 85 tới trang 188) do tác giả Lê Đức Bình trực tiếp nghiên cứu đã phân tích sâu sắc về quá trình diễn biến của cuộc vận động cải cách ruộng đất; quá trình phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức; tịch thu, trưng thu, trưng mua; chỉnh đốn tổ chức; trấn áp lực lượng phản cách mạng; Trong phần nghiên cứu này tác giả cũng nhấn 13 z mạnh việc phân định thành phần giai cấp là công tác trọng yếu bậc nhất trong cải cách ruộng đất, nhằm phân rõ ranh giới giữa nông dân và địa chủ, đoàn kết nông dân lao động và đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ. Nó là tiền đề cần thiết để chấp hành đúng đắn đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn.

Phân định sai thành phần giai cấp thì sẽ làm lẫn lộn ranh giới bạn thù, đánh không đúng đối tượng, gây nên tình trạng hoang mang, thắc mắc trong nội bộ nông dân lao động. Phần cuối của chương III, tác giả cũng nêu ra những sai lầm trong cải cách ruộng đất, quá trình sửa sai của Đảng kết thúc thắng lợi cải cách ruộng đất. Tác giả khẳng định “Những sai lầm chủ yếu trong cải cách ruộng đất là những sai lầm về chỉnh đốn tổ chức, về đánh địch và về chấp hành đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn” [166, tr. Tác giả chỉ ra ba nguyên nhân dẫn tới những sai lầm đó (do phạm phải chủ nghĩa chủ quan giáo điều; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; do không đi đúng đường lối quần chúng; giáo dục, lãnh đạo tư tưởng cán bộ thiếu chặt chẽ).

Từ những sai lầm, nguyên nhân của những sai lầm đó trong cải cách ruộng đất Đảng đã tìm cách sửa sai góp phần mau chóng ổn định tình hình xã hội ở nông thôn Việt Nam. Một nghiên cứu không thể thiếu khi đánh giá về cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam là cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 - 2000” của Đặng Phong (chủ biên), do nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản tập 1 (giai đoạn 1945 - 1954) năm 2001, tập 2 (giai đoạn 1955- 1975) xuất bản năm 2005. Phần viết về cải cách ruộng đất ở miền Bắc nằm ở cuối tập 1 (trang 312 - 314) và đầu tập 2 (trang 85 - 96). Tác giả có những nhận định khác biệt so với những nghiên cứu trước đây.

Tác giả cho rằng, phong trào phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất đã phạm sai lầm tả khuynh nghiêm trọng, số lượng người bị quy oan chiếm tỷ lệ rất cao. Việc định mức địa chủ chiếm 5,68% dân số là quá cao so với thực tế. Tác giả nhấn mạnh tới Hội nghị Trung ương lần thứ 10 họp từ tháng 9 tới tháng 11 năm 1956. Hội nghị thẳng thắn vạch ra những sai lầm trong cải cách ruộng đất, gọi đúng tên của những sai lầm là tả 14 z khuynh, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp kiên quyết và hữu hiệu để sửa sai.

Hội nghị chủ trương nhanh chóng khôi phục lại danh dự và cương vị cho những người đã bị xử trí oan, đền bù và chăm sóc thích đáng cho thân nhân những người đã tự sát và bị xử bắn oan, công khai xin lỗi nhân dân. Tuy những sai lầm diễn ra kéo dài và gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng chỉ sau mấy tháng sửa sai, tình hình đã ổn định, lòng dân lại yên. Nếu không phải một Đảng, một chính thể đã từng xả thân vì dân vì nước, đã từng cùng với nhân dân vượt muôn trùng khó khăn gian khổ để giành lấy độc lập tự do thì khó có thể được nhân dân độ lượng và tin yêu đến thế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phân tích chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1953-1957" của tác giả Đỗ Khánh Chi, dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Văn Thịnh, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về những thách thức và thành tựu trong giai đoạn này mà còn làm nổi bật vai trò của chính sách ruộng đất trong việc cải cách xã hội và phát triển kinh tế tại tỉnh Phú Thọ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chính sách và vai trò của Đảng trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước (1986-2010), nơi phân tích vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong sự phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, bài viết Lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc thực hiện quyền của phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2012 cũng sẽ cung cấp cái nhìn về sự lãnh đạo của Đảng trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, một khía cạnh quan trọng trong chính sách xã hội. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ về đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tại thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi sẽ giúp bạn hiểu thêm về sự đổi mới trong hoạt động của các tổ chức chính trị, từ đó thấy được sự liên kết giữa các chính sách và hoạt động thực tiễn của Đảng.