Tổng quan luận án

Vấn đề ruộng đất có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử Việt Nam do mối liên hệ trực tiếp với nông nghiệp, nông thôn và đời sống nông dân. Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo, trong đó đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, còn nông dân là lực lượng sản xuất quyết định. Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương chính trị tháng 10/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền. Sau năm 1945, chính quyền cách mạng đã tiến hành giảm tô, giảm tức, chia đất công, và Đại hội II (tháng 2/1951) tiếp tục khẳng định chủ trương xóa bỏ tàn tích phong kiến để người cày có ruộng. Tuy nhiên, quyền lợi ruộng đất của nông dân vẫn chưa được giải quyết triệt để. Giai đoạn 1953 - 1957, Đảng chủ trương phóng tay phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và tiến hành cải cách ruộng đất trên quy mô toàn miền Bắc.

Mặc dù sự kiện cải cách ruộng đất đã lùi vào lịch sử hơn 60 năm, việc nghiên cứu về tiến trình tổ chức thực hiện ở từng địa phương cụ thể vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ thỏa đáng. Nhiều công trình nghiên cứu đã tiếp cận cải cách ruộng đất ở cấp độ vĩ mô, nhưng khảo cứu toàn diện quá trình thực hiện tại các tỉnh, trong đó có tỉnh Phú Thọ, vẫn là một khoảng trống lịch sử. Cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ (tập 1, 1939 - 1968, xuất bản năm 2000) dày gần 200 trang nhưng chỉ dành hơn 3 trang phản ánh giai đoạn này; các công trình lịch sử cấp huyện cũng chỉ đề cập sơ lược, thiếu tư liệu kiểm chứng và chưa phân tích rõ nét chuyển biến sở hữu ruộng đất. Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đỗ Khánh Chi với đề tài "Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ từ năm 1953 đến năm 1957", do PGS. Lê Văn Thịnh hướng dẫn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2019), chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 03 15), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ thời kỳ 1953 - 1957. Từ đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu, góp phần thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trong thời kỳ đổi mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các tư liệu về vấn đề ruộng đất ở Phú Thọ từ năm 1953 tới hết cải cách ruộng đất.
  2. Làm rõ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
  3. Phân tích những tác động của bối cảnh lịch sử đến quá trình hình thành và thực hiện đường lối, chính sách ruộng đất của Đảng tại tỉnh Phú Thọ từ đầu năm 1953 tới 1957.
  4. Đi sâu mô tả hiện thực lịch sử, phân tích, đánh giá các giai đoạn thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 1953 đến 1957 trên cơ sở khai thác nhiều nguồn tư liệu lịch sử, đặc biệt là tư liệu lưu trữ.
  5. Luận giải và nhận xét về quá trình thực hiện đường lối, chính sách ruộng đất của Đảng tại Phú Thọ. Đánh giá về ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu góp phần thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về ruộng đất từ năm 1953 đến năm 1957 và sự chỉ đạo quá trình thực thi chủ trương, chính sách đó ở tỉnh Phú Thọ của Đảng.
  • Phạm vi thời gian: Từ đầu năm 1953 (Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II thông qua phương thức phát động quần chúng) đến năm 1957 (hoàn thành công tác sửa sai sau cải cách ruộng đất); có khảo cứu bối cảnh trước năm 1953.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Phú Thọ, tập trung vào các địa bàn trọng điểm gồm: Lâm Thao, Thanh Thủy, Tam Nông, Thanh Sơn, Yên Lập, Việt Trì, Thanh Ba, Thị xã Phú Thọ, Đoan Hùng, Phù Ninh và Hạ Hòa.
  • Phạm vi nội dung: Đặc điểm bối cảnh lịch sử tác động; chủ trương chính sách của Trung ương và Đảng bộ tỉnh Phú Thọ; diễn biến các đợt giảm tô, cải cách ruộng đất và công tác sửa sai; nguyên nhân sai lầm, hậu quả và các bài học kinh nghiệm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản luận án được chia thành hai nhóm công trình chính:

Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

  • Edwin Moise (1983) với công trình Land reform in China and North Vietnam: Consolidating the revolution at the village level (khảo sát cải cách ruộng đất ở Trung Quốc 1947 - 1953 và miền Bắc Việt Nam 1953 - 1957, phân tích 8 đợt giảm tô, 5 đợt cải cách ruộng đất, Luật Cải cách ruộng đất năm 1953, Hiệp định Genève và chỉ ra các sai lầm tả khuynh ở nông thôn miền Bắc cũng như ngoại thành Hà Nội qua tư liệu báo Nhân Dân, Thời Mới và sách của Trần Phương).
  • Christine White (1981) với công trình Agrarian reform and national liberation in the Vietnamese revolution: 1920-1957.
  • Bernhard Dahm và Vincent (1999) với tác phẩm Vietnam Village in transition: Background and Consequence of Reform Policies in Rural Vietnam.
  • Lương Văn Hy (1992, Đại học Hawaii xuất bản) với công trình Revolution in the village: Tradition and Transformation in North Vietnam (1925-1988), dành 24 trang khảo cứu huyện Lâm Thao (Phú Thọ) về sở hữu và phân phối ruộng đất từ năm 1925 đến 1988.
  • Các tài liệu dịch giới thiệu kinh nghiệm quốc tế: Antonin Nedved, E. Varga, Mikhai Minkov, R. Zambrovsky (Lê Văn Ngoạn dịch, 1950) về ruộng đất Đông Âu (Tiệp Khắc, Ba Lan, Bulgaria); J. Kotako về cải cách điền địa Tiệp Khắc; Văn Lâm dịch (1950) về ruộng đất Trung Hoa; Lưu Trấn Bản với Kinh nghiệm về phương pháp lãnh đạo trong việc cải cách ruộng đất (46 trang, hướng dẫn phương pháp "tam đồng", gợi khổ, tố khổ); Tiết Thọ Chương và Lý Quảng Điền với tác phẩm Không thể cải cách ruộng đất một cách hòa bình.

Nghiên cứu của các tác giả trong nước

  • Hoàng Ước, Lê Đức Bình, Trần Phương (chủ biên, 1968), Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam (chương III do Lê Đức Bình viết, phân tích phân định thành phần giai cấp, diễn biến giảm tô, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức và chỉ ra 3 nguyên nhân sai lầm: chủ quan giáo điều, vi phạm tập trung dân chủ, không theo đúng đường lối quần chúng và buông lỏng giáo dục tư tưởng cán bộ).
  • Đặng Phong (chủ biên), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 - 2000 (tập 1 năm 2001, tập 2 năm 2005; đánh giá sai lầm tả khuynh nghiêm trọng, việc ấn định tỷ lệ địa chủ 5,68% dân số là quá cao; phân tích Hội nghị Trung ương lần thứ 10 từ tháng 9 đến tháng 11/1956).
  • Lịch sử Chính phủ Việt Nam (tập 1 và 2, xuất bản năm 2006): cung cấp số liệu biến động sở hữu đất đai trước 1945 và năm 1953.
  • Vũ Quang Hiển (chủ biên, 2012), Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn (1930 - 1975) (chương III khảo sát 127 xã của Ủy ban Cải cách ruộng đất Trung ương; chỉ ra số hộ địa chủ giảm từ 2.239 hộ năm 1945 xuống 1.767 hộ năm 1953; phê phán quy định áp đặt tỷ lệ địa chủ 4-5% và các sai phạm tả khuynh đối với trung nông, phú nông, địa chủ kháng chiến).
  • Lâm Quang Huyên (2002, tái bản 2007), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam (402 trang, hệ thống hóa sử liệu ruộng đất hai miền Nam - Bắc 1945 - 1975).
  • Trần Huy Liệu (2007) trên Tạp chí Xưa và Nay (số 297) với các bài viết về phát động quần chúng giảm tô và ghi chép thực tế nông thôn.
  • Nhóm tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Văn Cạn, Trần Văn Từ, Nguyễn Văn Chung, Nguyễn Văn Nhọc với cuốn Sau cải cách ruộng đất nông dân nên đi theo con đường nào; Trần Phương với Một số ý kiến về chủ nghĩa Tư bản ở nông thôn miền Bắc ngay sau cải cách ruộng đất; Lê Thanh Nghị (1953) với Đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng Lao động Việt Nam thực hiện cải cách ruộng đất đẩy mạnh kháng chiến đến thành công; Lê Nghiêm (1955) với Cuộc sống mới của nông dân sau Cải cách ruộng đất; Lê Điền (1956) với Con đường tiến lên của nông dân sau cải cách ruộng đất; Ban Cải cách ruộng đất Trung ương (1956) với Thắng lợi của Cải cách ruộng đất ở ngoại thành Hà Nội.
  • Mối quan hệ giữa cải cách ruộng đất và chiến thắng Điện Biên Phủ: Trương Thị Tiến (1984), Lê Thị Quỳnh Nga (2004), Văn Phong.
  • Về nguyên nhân sai lầm: Văn Phong với Đánh giá cho đúng những thắng lợi của nhiệm vụ phản phong và những sai lầm trong cải cách ruộng đất (27 trang); Minh Nghĩa (1957) với Về nguồn gốc tư tưởng của những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức (xác định nguồn gốc tư tưởng là chủ nghĩa chủ quan).
  • Tài liệu tuyên truyền, sửa sai của Ban Tuyên huấn Trung ương, Bộ Văn hóa (1954, 1957).
  • Nghiên cứu địa phương: Luận án tiến sĩ của Lê Quỳnh Nga (ở Thanh Hóa 1945 - 1957), Nguyễn Duy Tiến (ở Thái Nguyên); sách lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và lịch sử Đảng bộ các huyện Tam Nông, Yên Lập, Thanh Sơn, Thanh Ba.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở bình diện chung toàn miền Bắc hoặc nghiên cứu lý luận; những tài liệu đề cập đến Phú Thọ rất hạn chế, thiếu hệ thống tư liệu lưu trữ gốc kiểm chứng, chưa phản ánh đầy đủ sự biến động sở hữu ruộng đất, các bước giảm tô, cải cách ruộng đất và tiến trình sửa sai cụ thể của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khôi phục bức tranh lịch sử cụ thể, toàn diện tại địa bàn tỉnh.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân, nông nghiệp và liên minh công - nông trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng dân chủ nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử tái hiện tiến trình sự kiện theo trình tự thời gian từ trước năm 1953 đến năm 1957; phương pháp logic khái quát hóa các mối liên hệ bản chất, phân tích đường lối và rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và đối chiếu lịch sử; chú trọng phân tích số liệu thống kê từ các báo cáo tổng kết, văn bản hành chính và án văn lưu trữ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu lưu trữ gốc: Chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tuyên huấn; các chỉ thị, kế hoạch của Tỉnh ủy Phú Thọ; báo cáo, thống kê, biên bản, án văn của Ủy ban hành chính tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân liên huyện, Ủy ban Cải cách ruộng đất Trung ương, Ủy ban Cải cách ruộng đất Liên khu Việt Bắc. Các tài liệu này được lưu trữ tại:
    • Kho lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng;
    • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III;
    • Trung tâm lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Phú Thọ;
    • Sở Nông nghiệp tỉnh Phú Thọ, Tổng cục Thống kê và Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Tư liệu xuất bản: Văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật (Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư của Chính phủ); công trình nghiên cứu của Viện Lịch sử Đảng, Viện Sử học; các sách chuyên khảo, báo chí thời kỳ 1953 - 1957 (Nhân Dân, Thời Mới).
  • Tư liệu hồi ký, nhân chứng: Hồi ký, bản tự thuật của các nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia cuộc vận động.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án

Chương I tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về ruộng đất và cải cách ruộng đất giai đoạn 1953 - 1957. Chương này phân tích những kết quả có thể kế thừa về mặt tư liệu, nội dung và phương pháp tiếp cận; đồng thời chỉ rõ sự thiếu hụt các công trình khảo cứu chuyên sâu, có hệ thống về thực tiễn tỉnh Phú Thọ, từ đó xác lập nhiệm vụ khoa học và hướng giải quyết của luận án.

Chương II: Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Phú Thọ từ năm 1953 đến năm 1955

Chương II tập trung làm rõ thực trạng ruộng đất tại Phú Thọ trước năm 1953 và tiến trình triển khai chính sách ruộng đất của Đảng trong giai đoạn 1953 - 1955.

Thực trạng ruộng đất trước năm 1953: Phú Thọ là tỉnh trung du Bắc Bộ gồm 12 huyện, diện tích tự nhiên trên 3.465 km², dân số trên 1 triệu người thuộc 21 dân tộc (người Kinh chiếm gần 1,1 triệu, người Mường hơn 10 vạn, người Dao hơn 6.000, Cao Lan hơn 2.000). Trước năm 1945, ruộng đất tập trung lớn vào tay thực dân Pháp và địa chủ lập đồn điền (chiếm gần 70% diện tích toàn tỉnh).

Theo số liệu của Ty Địa chính Phú Thọ lập ngày 12/8/1946 tại 9 huyện (trừ Thanh Ba và Hạc Trì chưa thống kê được), diện tích đồn điền lớn phân bố như sau:

Đối tượng chiếm đoạt Số lượng địa chủ Số đồn điền Diện tích chiếm đoạt (ha)
Địa chủ người Việt 27 41 7.018,10
Địa chủ người Pháp 16 22 6.210,52
Địa chủ người Hoa 2 2 361,20
Tổng cộng 45 65 13.589,82

Từ sau năm 1945 đến đầu năm 1953, thực hiện Sắc lệnh số 78/SL (ngày 14/7/1949), tỉnh Phú Thọ tiến hành giảm tô 25%, xóa địa tô phụ và tạm cấp đồn điền vắng chủ. Đến năm 1950, tỉnh đã tạm cấp xong 4 đồn điền: Maldan (Đoan Hùng), Trinbour (Hạ Hòa), Lê Thuận Khoát (Hạ Hòa), Trịnh Xuân Nghĩa (Phù Ninh); tiến hành tạm cấp đồn điền Le Roy de Barree (Phù Ninh) cùng các đồn điền tại Đoan Hùng, Yên Lập, Tam Nông. Điều tra năm 1950 cho thấy trong 1.113 chủ điền, có 97,8% số chủ ruộng đã giảm tô và 97% diện tích đất được giảm tô. Năm 1951, diện tích cấy lúa 2 vụ đạt 55.500 ha, sản lượng thu hoạch 86.000 tấn thóc.

Quá trình thực hiện từ năm 1953 đến năm 1955:

  • Chủ trương của Trung ương: Chịu tác động từ bối cảnh kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết định và kinh nghiệm quốc tế (chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Stalin đầu năm 1950; nhận định của Cố vấn La Quý Ba tháng 9/1952). Hội nghị Trung ương 4 (tháng 1/1953) quyết định phương thức phóng tay phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất.
  • Hệ thống văn bản chỉ đạo: Nghị định số 239-B-TTG (ngày 05/3/1953) phân định thành phần giai cấp; Chỉ thị Trung ương tháng 4/1953 xác định đường lối "dựa vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, liên hiệp phú nông, đánh đổ địa chủ phong kiến"; các Sắc lệnh số 149, 150, 151/SL (ngày 12/4/1953) và Nghị định số 253, 264/TTg; Hội nghị Trung ương 5 và Hội nghị toàn quốc lần thứ I (tháng 11/1953) thông qua Cương lĩnh ruộng đất; Sắc lệnh số 197/SL ngày 19/12/1953 ban bố Luật Cải cách ruộng đất (5 chương, 38 điều).
  • Điều chỉnh sau Hiệp định Giơnevơ: Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9/1954 chuyển chính sách tịch thu ruộng đất đồn điền Pháp và địa chủ hợp tác đối phương sang trưng mua; rút ngắn thời gian hoàn thành cải cách ruộng đất xuống 2 năm (Hội nghị Trung ương 7 tháng 3/1955 quyết định hoàn thành trước tháng 7/1956); Chỉ thị ngày 03/11/1954 quy định xét xử qua Tòa án nhân dân đặc biệt thay cho nông hội đấu tố; Chỉ thị ngày 07/12/1954 về chỉnh đốn chi bộ nông thôn nhằm thanh thải phần tử bóc lột và kết nạp đảng viên bần cố nông; Điều lệ phân định thành phần giai cấp ngày 01/3/1955 đưa ra quy định cụ thể về tiêu chuẩn lao động chính (từ 4 tháng/năm trở lên) và định mức phát canh.

Chương III: Thực hiện sửa sai trong cải cách ruộng đất, hoàn thành khẩu hiệu "người cày có ruộng" ở tỉnh Phú Thọ (1955-1957)

Chương III trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ tiến hành sửa chữa những sai lầm sau cải cách ruộng đất. Tác giả phân tích các yếu tố tác động, chủ trương sửa sai của Trung ương Đảng (đặc biệt sau Hội nghị Trung ương 10 năm 1956) và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Phú Thọ. Chương này làm rõ quá trình kiểm tra thí điểm, nhận diện các sai phạm chủ yếu: quy sai thành phần giai cấp (nhiều trung nông, phú nông, địa chủ kháng chiến bị quy oan thành địa chủ cường hào), đả kích tràn lan và xử lý oan sai cán bộ, đảng viên trong quá trình chỉnh đốn chi bộ.

Trên cơ sở đó, luận án phân tích các bước tổ chức thực hiện sửa sai tại Phú Thọ: điều chỉnh lại thành phần giai cấp, trả lại tài sản, nhà cửa, ruộng đất bị tịch thu/trưng thu sai quy định; khôi phục danh dự, phục hồi sinh hoạt Đảng cho cán bộ, đảng viên bị xử trí oan; củng cố lại chi bộ nông thôn và hệ thống chính quyền cơ sở. Quá trình sửa sai đã giúp ổn định tình hình chính trị - xã hội nông thôn, củng cố khối đại đoàn kết và hoàn thành mục tiêu "người cày có ruộng".

Chương IV: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương IV đưa ra các đánh giá tổng hợp về toàn bộ tiến trình thực hiện chính sách ruộng đất và công tác sửa sai tại Phú Thọ:

  • Đánh giá ưu điểm: Xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân và địa chủ phong kiến, chuyển giao ruộng đất cho nông dân lao động, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn và bồi dưỡng sức dân phục vụ kháng chiến.
  • Đánh giá hạn chế: Mắc sai lầm tả khuynh nghiêm trọng trong phân định giai cấp, vi phạm chính sách mặt trận đại đoàn kết toàn dân tộc, áp dụng rập khuôn phương pháp đấu tố và thanh trừng nội bộ trong chỉnh đốn chi bộ.
  • Bốn bài học kinh nghiệm chủ yếu:
    1. Quan tâm giải quyết vấn đề ruộng đất của nông dân phải đi đôi với việc củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc.
    2. Dựa vào quần chúng, phát huy quyền làm chủ của quần chúng, nhưng phải coi trọng việc giác ngộ và tổ chức quần chúng.
    3. Điều tra nghiên cứu, đánh giá đúng thực tế khách quan để đề ra chủ trương, chính sách cho đúng, đặc biệt là chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số.
    4. Coi trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong quá trình thực hiện chính sách ruộng đất.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học lịch sử: Luận án tái hiện một cách hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình đường lối, chính sách ruộng đất của Đảng và quá trình triển khai thực tế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1953 - 1957.
  2. Về mặt tư liệu: Luận án khai thác, xử lý và công bố nhiều nguồn tài liệu lưu trữ gốc có độ tin cậy cao từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và Lưu trữ Tỉnh ủy Phú Thọ (các báo cáo giảm tô, số liệu đồn điền, biên bản kiểm tra, án văn của Tòa án nhân dân đặc biệt).
  3. Về mặt đánh giá và kinh nghiệm: Đánh giá khách quan cả thành quả lẫn sai lầm, chỉ rõ nguyên nhân của những khuyết điểm tả khuynh; đúc kết 4 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn đối với việc hoạch định và thực thi chính sách đất đai, nông nghiệp, nông thôn và công tác xây dựng Đảng ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong địa giới hành chính tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1953 - 1957; nguồn tư liệu lưu trữ tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi thời kỳ đầu chưa thực sự đồng đều so với vùng đồng bằng và trung du.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh tiến trình thực hiện chính sách ruộng đất giữa Phú Thọ và các tỉnh trung du - miền núi Bắc Bộ khác; khảo cứu sâu hơn sự biến đổi kinh tế hộ nông dân và tổ chức sản xuất nông nghiệp sau sửa sai (giai đoạn bước vào hợp tác hóa nông nghiệp sau năm 1957).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Cán bộ nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Xã hội học nông thôn; cán bộ nghiên cứu và quản lý chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các cơ quan nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống số liệu thống kê địa chính năm 1946 và tư liệu lưu trữ về tạm cấp đồn điền năm 1950 tại Phú Thọ (Chương II).
    • Phân tích bối cảnh ra đời các văn bản chỉ đạo của Trung ương và quá trình điều chỉnh chính sách sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 (Chương II).
    • Khảo sát thực tế công tác sửa sai, phục hồi đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng tại địa phương (Chương III).
    • Bốn bài học kinh nghiệm về xử lý quan hệ giai cấp, chính sách dân tộc và xây dựng tổ chức Đảng cơ sở (Chương IV).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu sở hữu đồn điền lớn tại tỉnh Phú Thọ trước năm 1953 được thống kê như thế nào?

Theo báo cáo của Ty Địa chính Phú Thọ lập ngày 12/8/1946 (khảo sát trên 9 huyện), toàn tỉnh có 45 địa chủ lớn sở hữu 65 đồn điền với tổng diện tích 13.589,82 ha. Trong đó: 27 địa chủ người Việt chiếm 7.018,1 ha (41 đồn điền); 16 địa chủ người Pháp chiếm 6.210,52 ha (22 đồn điền); 2 địa chủ người Hoa chiếm 361,2 ha (2 đồn điền). Nếu tính cả các đồn điền nhỏ và địa chủ phát canh thu tô, giai cấp địa chủ chiếm đoạt gần 70% tổng diện tích đất toàn tỉnh.

2. Đảng và Chính phủ đã ban hành những văn bản pháp quy cốt lõi nào trong năm 1953 để chỉ đạo giảm tô và cải cách ruộng đất?

Năm 1953, các văn bản chủ chốt gồm:

  • Nghị định số 239-B-TTG (ngày 05/3/1953) của Thủ tướng Chính phủ quy định phân định thành phần giai cấp ở nông thôn.
  • Chỉ thị phát động quần chúng của Trung ương Đảng (tháng 4/1953).
  • Sắc lệnh số 149/SL (ngày 12/4/1953) về phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức; Sắc lệnh số 150/SL và 151/SL về thành lập Tòa án nhân dân đặc biệt và trừng trị địa chủ vi phạm pháp luật.
  • Nghị định số 253/TTg (ngày 20/4/1953) và Nghị định số 264/TTg (ngày 11/5/1953) hướng dẫn thi hành các sắc lệnh ruộng đất.
  • Sắc lệnh số 197/SL (ngày 19/12/1953) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban bố Luật Cải cách ruộng đất (gồm 5 chương, 38 điều).

3. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, chính sách cải cách ruộng đất được Bộ Chính trị điều chỉnh như thế nào?

Tháng 9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết điều chỉnh:

  • Chuyển chính sách tịch thu ruộng đất của đồn điền Pháp và địa chủ hợp tác với đối phương sang chính sách trưng mua.
  • Tăng cường tác dụng của chính quyền và pháp luật, sử dụng phương thức tòa án thay cho việc nông hội tự tổ chức đấu tố.
  • Rút ngắn thời gian tiến hành cải cách ruộng đất ở miền Bắc xuống 2 năm (đến Hội nghị Trung ương 7 tháng 3/1955 quyết định hoàn thành trước tháng 7/1956).
  • Chỉ thị ngày 03/11/1954 quy định tòa án không truy tố tội Việt gian hợp tác với đối phương trong chiến tranh mà tập trung xét xử các tội hình sự, tước đoạt tài sản, ức hiếp nông dân hoặc phá hoại chính sách ruộng đất.

4. Chỉ thị ngày 07/12/1954 của Ban Bí thư nhận định thực trạng và quy định biện pháp gì về chỉnh đốn chi bộ nông thôn?

Chỉ thị nhận định chi bộ nông thôn bị giai cấp địa chủ khống chế: chi ủy viên thuộc giai cấp bóc lột chiếm 5%, đảng viên thuộc giai cấp bóc lột chiếm trên 14%, đảng viên có lịch sử không trong sạch hoặc quan hệ mật thiết với giai cấp bóc lột chiếm 57%, số đảng viên tốt chỉ có 29%. Ban Bí thư chủ trương kiên quyết thanh thải các phần tử bóc lột, tay sai địa chủ ra khỏi Đảng; đồng thời tập trung phát triển đảng viên mới từ thành phần bần cố nông có lịch sử trong sạch.

5. Luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm chủ yếu nào từ thực tiễn Phú Thọ?

Luận án đúc kết 4 bài học: (1) Giải quyết ruộng đất phải đi đôi với củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; (2) Dựa vào quần chúng nhưng phải coi trọng việc giác ngộ và tổ chức, tránh buông lỏng hoặc bao biện làm thay; (3) Điều tra nghiên cứu, đánh giá khách quan thực tế địa phương, đặc biệt chú trọng chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số; (4) Coi trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Khánh Chi là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, tái hiện toàn diện và có hệ thống quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1953 - 1957. Dựa trên việc khai thác nguồn tư liệu lưu trữ gốc phong phú, luận án đã phân tích khách quan các giai đoạn phát động giảm tô, cải cách ruộng đất và công tác sửa sai, làm rõ cả thành quả kinh tế - xã hội lẫn những hạn chế tả khuynh tại địa phương. Các bài học kinh nghiệm được đúc rút từ công trình mang giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ lịch sử hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng cũng như việc thực hiện chính sách nông nghiệp, nông dân và đất đai trong giai đoạn hiện nay.